Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010

ĐINH TRỌNG PHÚC – KÝ ỨC MÙA LŨ



“Ông tha mà bà chẳng tha

Làm nên cơn lụt hăm ba tháng mười”

(Ca dao)

Thời con nít, tôi vẫn khư khư một ý nghĩ rằng câu ca dao trên chỉ dành riêng về quê ngoại mà thôi . Sao mà không riêng cho được khi hàng năm cứ đúng gần cuối tháng mười âm lịch, bầu trời Quảng Trị chỉ một màn đen xám ngắt, tối ‘sầm sập’ của mưa, của gió, của cái thứ không khí ẩm ứơt nặng nề, tất cả gom lại làm dấu hiệu cho cơn lụt tháng mười đang đến .

Đêm đêm tôi nằm nghe tiếng sấm từ hướng biển, hướng thôn Gia Đẳng , Thôn Ba Lăng hay Long Quang vọng lên, tiếng sấm đó nghe “ùng ục, ùng ục”, thứ âm thanh thật lạ tai mà mệ ngoại tôi thường gọi là ‘sấm đất’ :

“Ôn Trời sắp mần lụt rồi đó,” ngoại tôi thường nói vậy .

Thế là đêm đêm tôi nằm ngủ nhưng tai lại cố lắng nghe tiếng sấm “đất’ đầy bí ẩn đó. Tiếng sấm như dưới lòng biển phát ra, dội lên chân trời hướng đông. Thỉnh thoảng tôi ghé mắt nhìn ra khe hở của khung cửa sổ, những tia chớp chốc chốc lại lóe lên chân trời đen thẩm. Lại cũng tiếng ‘ùng ục , ùng ục’ từng hồi, trời trở mình như muốn báo rằng: mùa lụt đang về:

“Đêm đêm chớp bể mưa nguồn

Hỏi ngưới quân tử có buồn chăng ai ?”

(Ca dao)

“ Chớp bể mưa nguồn …” ư ? Câu ca dao này xét cho cùng, đó là kinh nghiệm lâu đời của người miền Trung, ở đây lại càng trùng hợp với quê ngoại tôi một lấn nữa. Ban ngày hướng mắt lên Trường Sơn, tôi chẳng còn thấy màu xanh bất tận của núi rừng như trong mùa hạ nữa. Hướng đó lúc này chỉ là một màn trời đen nghịt: MƯA NGUỒN, mưa đang che núi, phủ rừng ngày này qua ngày khác, liên tu bất tận suốt một tuần. Mưa, mưa lớn lắm, những màn mưa khổng lồ trên đó che luôn cả ngọn núi cao; Động Ông Do, đỉnh Đầu Bò không còn thấy dạng. Tôi còn nghe tiếng sấm sét từ trên đó vọng về. Và rồi cái sự kiện ‘vĩ đại’ mà tuổi nhỏ của bọn tôi hằng mong đợi trước sau gì cũng đến, phá tan nét tĩnh lặng, trầm buốn cái xóm tên là Cửa Hậu thân yêu muôn thuở :

- “Lụt, lụt, bây ơi, đi coi lụt.”

Tiếng mấy thằng bạn tôi í-ới kêu nhau ngoài ngõ.

Có gì thích thú cho bằng mỗi năm lũ bạn chúng tôi được dịp cùng nhau chạy về hướng bờ sông coi lụt, để được lội nước, được thỏa thích chứng kiến những gì dữ tợn nhất của ‘ôn Trời’ .

Con đường Lê Văn Duyệt chẳng bao xa là đến giáp với đường bờ sông ngang cống Quân Cụ thông ra sông . Người ta đi coi lụt khá đông, giữa đường họ râm ran hỏi nhau :

- “Lụt năm ni to hơn năm ngoái khôn hè ?”

-“To hơn chơ nị! ”

Riêng bọn tôi cứ cắm đầu, cắm cổ cố chạy cho nhanh, cho mau đến bờ sông.

Ôi chao ! Mới mấy tuần núp trong nhà tránh mưa, trốn gió, giờ ra đây mới thấy giòng sông hiền lành đó đã biến đổi không biết khi mô .

Con sông nhỏ bé giờ chỉ là một biển nước đỏ ngầu, nước mô trên rừng trên núi, nước Trường sơn trùng trùng điệp điệp đổ về dưới “ni răng mà dữ tợn ?” Nước mênh mang, nước vây khắp chốn, giòng chảy xiết không bến chẳng bờ. Chênh chêch bên kia Bãi cát Nhan biều mất tăm, không còn dấu vết, chỉ còn mấy rặng tre còn ngoi ngóp như cố vươn lên làn nước trên rừng đang hùng hổ tràn về mà thôi. Giòng nước đục ngầu, càng lúc càng chảy băng băng, nó cứ cắm đầu cắm cổ trôi nhanh về biển. Giữa giòng vô số xoáy nước, to có, nhỏ có cứ quay cuồng xoắn tít. Rồi còn thêm vô số thân lau xác lách cứ thế mặc sức theo giòng nước. Chúng như xô đẩy nhau, thi đua trôi thật mau về thăm biển cả Thái Bình. Thỉnh thoảng theo làn nước dữ kia, nhấp nhô mấy cấy gỗ mục trên rừng trôi về. Nhà ai đó thật gan, nghe đâu vớt được cả đống củi trời cho này . Thuở này thiên hạ còn nấu ăn bằng củi, nên gỗ rừng khi trôi về xuôi tấp một mớ vào bờ khiến họ mừng rơn .

Tôi hướng lên Cầu Ga, vẫn còn hình dáng đen xì của chiếc cầu quen thuộc đó. Nó vẫn an toàn, đứng vững , nối nhịp thương yêu hai bờ nam bắc.

-“ Năm ni, chắc nước khôn vô chùa mô hỉ ?"

Một ông già vừa đứng cất rớ kiếm mớ cá nước lụt vừa lo ngại nói với bọn tôi như thế .

Ngoảnh nhìn hướng cống chùa Tỉnh Hội nước còn một chút nữa là đến cổng Tam quan, bãi cát trước chùa thì hoàn toàn mất hẳn, nước đang mấp mé bờ đường .

Phía đập Rì Rì thì không còn nữa, giòng lụt đã cắt ngang. Hướng phía Sãi chỉ còn nhìn thấy hình bóng lũy tre mờ mờ, cong cong - biết tin gì không dưới nớ? Nước lụt ngăn cách đôi bờ. Chẳng ai dám liều mạng băng mình qua giòng nước đang xé đập RÌ RÌ tràn vào nhánh sông Vĩnh Định. Không ai qua được đoạn đập non nửa cây số bị nước cắt ngang. Tầm mắt tôi gắng nhìn bờ tre phía Sãi như đang rướn mình chịu đựng, oằn oại, cố hết sức ngăn cản giòng nước dữ đang muốn xô đẩy hất tung tất cả để xoáy vô làng .

Tuy người ta biết lụt sẽ hết, nước sẽ rút dần thôi, thế mà khoảng thời gian bị cách chia không về được làng , không lên được Tỉnh, họ xem chừng lâu quá, như cả cuộc đời. Hai bờ lóng nhóng những người thân đang nhấp nhỏm chờ cơn nước rút, họ tưởng chừng như vĩnh viễn xa nhau thật sự đến nơi.

Giờ thì tôi thích thú nhìn mấy con cá trắng nhảy đang nhảy long chong trong cái rớ mà ông già vừa cất lên. Ông già rung rung cho mấy cọng rều rớt lại xuống nước, đùn mấy mấy chú cá trắng xuống tận đáy lưới, phần nhiều là diếc. Ông già vội hắt hết vào cái vợt nhỏ, xong ông bỏ cá vô cái oi đeo bên thắt lưng. Nhìn mấy con cá trắng làm tôi nhớ đến tô cháo cá diếc với bụng trứng béo ngậy vàng hươm mà mạ tôi thường hay nấu vào mùa này.

Xem chừng nước càng lúc càng dâng cao. Tôi lại nghe phía sau, mấy con đường nhỏ trong xóm Heo (cái tên xóm Heo, oái ăm thay lại gần xóm Chùa Tỉnh Hội, khi nghe tiềng chuông công phu buổi sáng thế là dân trong xóm thức giấc, nhưng lại thúc giùm ông thợ mổ heo luôn thể ; thật là chuyện khó lòng cho các thầy lúc này không sao giải trừ được nghiệp SÁT SINH ) người ta bắt đầu lội nước , xóm thấp hơn mặt đường xe chạy nên nước trong xóm có nơi sâu ngang ngực . Xế trưa nước bắt đầu mấp mé tràn lên đường. Ngang Cống Quân Cụ trước mặt Ty Thú Y giờ này nước đã tràn qua thật rồi. Vài con cá, tôi không biết cá gì, lại “bon chen” trườn mình theo làn nưóc lấp xấp trên mặt đường băng ra sông .

Thằng Mẹo, một đứa trong bọn tôi vắng đi một hồi không thấy hắn đâu, thì ra hắn đang hì hục kéo một nhánh phượng gãy thật to đem về nhà làm củi. Cái thằng !

“ Ngó rứa mà thương nhà hắn dữ thiệt a , thật là thằng con có hiếu , đi chơi lụt hắn cũng không quên chuyện kiếm củi về cho mạ hắn,” tôi nghĩ thầm trong bụng.

Giữa giòng nước đang chảy băng băng đó tôi lại thấy nhấp nhô một thân cây rừng thật lớn. Ai cũng xuýt xoa chỉ trỏ, tiếc cho một cây củi khống lồ, ước chi nó tấp được vào bờ. Riêng tôi thì chẳng màng chi thứ viêc người lớn; con nít như tôi chỉ một cái thích: lội qua - lội lại trên làn nước đang băng qua hai cái cống:Trại quân cụ, và Ty thú y mà thôi. Nước tràn qua mặt cống khá mạnh, vừa lội tôi vừa hồi hộp, tim đánh liên hồi sợ nước cuốn tôi xuống sông trôi về biển mất thôi.

Cũng còn may, khi lụt về đến đồng bằng thì trời lại ngưng mưa. Nhưng chính thời điểm này lại là lúc bao nhiêu nước trên nguồn dồn hết về đây. Nước đang tràn vào sông đào Vĩnh Định, nước sẽ ngập đồng ruộng An Tiêm , Hạnh Hoa và luôn cả cánh đồng sau xóm Cửa Hậu bọn tôi nữa đó.

Đây cũng là dịp trong xóm tôi nghe chừng rộn ràng, bát nháo hẳn lên vì cái chuyện đi nơm cá ngòai đồng. Hàng năm vào lúc lụt như thế này, rất nhiều cá gáy theo cơn nước lụt lên đồng tìm chổ đẻ trứng. Thỉnh thoảng chúng nó như ‘tức trứng’ thi nhau quẫy trên mặt nước. Đứng xa người ta còn thấy cá quẫy, dân trong xóm đua nhau cầm nơm bươn bả nhào tới, tiếng la tiếng hét loạn xà ngầu. Trên cánh đồng giờ này người nơm cá rất đông, nước ngập quá bụng mà chẳng ai lo chi chuyện ướt và lạnh. Có ai đó chém được một con gáy thật to. Có người khi nơm được một con quá to, mừng quá la toáng lên kêu bà con tới phụ bắt .



Thằng Mẹo xóm tôi, cái thằng coi bộ việc chi cũng rành. Hắn không biết kết xong từ lúc nào cái bè chuối thật to. Hắn vừa chống bè vừa khoái chí kêu tôi cùng lên bè đi chơi với hắn. Tôi là thằng “nhát gan thỏ dế” làm gì dám nghĩ tới chuyện lên bè với hắn .

Nghĩ cũng tội nghiệp cho cái xóm mới mọc lên sau này, nhà họ sát cánh đồng, bìa ngoài xóm Hậu của tôi. Họ đang bị cái họa “ách nước tai trời” đày đọa, phải đi tránh lụt, phải đi xin “ăn nhờ ở đậu” ít ngày tận xóm ngoài tức mấy chục nóc nhà “cố cựu” cạnh con đường nhựa tức là con đường Lê Văn Duyệt trước Cửa Lao Xá. Xóm ngoài này may mắn không bị nước lụt “xâm lăng”. Dĩ nhiên không ai nỡ lòng từ chối, xóm giềng mà !

Ai chà ! cái thích của bọn tôi xem ra cũng ‘ác’ vì bọn tôi sao lại mong cái cảnh lụt lội như thế này mãi để chạy đi xem, đi chơi, đi lôi lụt; trong lúc bà con mình sau xóm lại đang vất vả ngược xuôi khổ sở trăm bề ! Nhưng xét cho cùng thì chính Ôn Trời gây họa chứ ai vô đây nữa ! Lũ con nít bọn tôi chỉ là vui ‘ké’ mà thôi !

Cái nhà thằng Bốn (NguyễnVăn Bốn), cùng lứa với tôi. Ba hắn có xe đò QuảngTrị- Huế. Năm vừa rồi chú Ba, ba hắn (nhưng hắn vũng kêu chú vì kiêng tên) mới xây xong cái nhà ngói thiệt to sau xóm vì ba hắn bán nhà cũ ngoài đường mua đất sau đồng này có vườn tược rộng rãi vui thú tuổi già. Nền nhà thằng bạn ‘nối khố’ này xây lắm công phu và tốn kém rất ‘hung’. Cát đổ nền, ba hắn (tức là chú hắn) thuê xe lấy tận bờ sông chở về, mất cả tháng trời mới xong . Nội cái nền không thôi đã cao hơn một mét thế thì làm chi có chuyện nước lụt làm ướt đồ đạc trong nhà hắn được. Xóm Hậu “Mới” này chỉ có nhà thằng Bốn không lo cơn lụt mà thôi, chiếc xe hàng (xe khách) ba hắn (tôi lại quên nữa! của chú hắn) thì tạm thời ‘lánh nạn’ ngoài đường ‘quan’ tức là con đường nhựa Lê Văn Duyệt đó. Còn lại đa số bà con ngoài này chỉ toàn là ‘tạm cư’ bởi thế mới long đong . Bà con dưới làng mấy năm nay chạy lên chạy về tránh bom tránh đạn, đi riết một hồi không biết làm chi ăn nên đành phải ở lại Tỉnh luôn. Số bà con này mang kiếp ‘tản cư ‘ nên nhà cửa đương nhiên tạm bợ, cái lợp tranh , cái lợp tôn , “lỏng chỏng, le te”. Vợ con gia đình nhiều phần ăn theo đồng lương lính tráng, kiếm được đồng nào xào đồng đó nên vách nhà của họ thì tôn có, ván ép Mỹ cũng có , tạm che gió lánh mưa mà thôi cần chi cho đẹp. Nhà cửa tạm dung thân, vì thế nên dựng vội xây vàng bên mé ruộng bờ ao nên nền nhà mới thấp lè tè, cơn lụt mới lên mà nước đã liếm tận vạt giường khiến bà con mất ăn bỏ ngủ .

Lội bì bõm dò theo con ĐƯỜNG NGỰ (đường ngày xưa vua trong Huế có ra thăm Thành Cổ vua không biết niên hiệu nào ngài có ngự ra thăm cánh đồng này. Đường đắp cao và to cho vua ngự nên gọi là Đường Vua Ngự hay là Đường Ngự). Tôi chỉ thấy cánh đồng thân yêu giờ đã loang loáng nước. Nước phủ tràn trề, từ con sông Vĩnh Định chặng thôn An Tiêm mênh mông lan đến xóm Tiêu xóm thằng Hiệp (Lê Văn Hiệp đang ở tại San Jose) vươn đến xóm Hậu của bọn tôi và lao qua đến tận thôn Hạnh Hoa “lãnh thổ” của thằng Hậu (Nguyễn Hậu đang ở tại Hayward CA). Đứng mé xóm sau tôi thấy giờ tất cả chỉ là một màn nước đục giống một cái đầm vĩ đại mà Ông Trời sau một đêm đã tạo một “cảnh biển dâu” như vậy đó .

Những làn sóng nhỏ lao xao, nước cũng đục ngầu. Theo làn gió nhẹ văng vẳng tiếng bà con đi nơm cá kêu nhau, loáng thoáng vài con chim nhạn bay lướt qua mặt nước.

Tôi nhìn ra thằng Mẹo, hắn như một “anh hùng trên biển cả ” đang chống chiếc bè chuối thật to, công trình “vĩ đại” của hắn. Chiếc bè rong chơi của thằng Mẹo đi men theo mấy vườn chuối sau xóm mà giờ đây mấy vạt chuối đó chỉ còn phần đọt ló lên trên mặt nước mà thôi.

“Cảnh biển dâu?” xem chừng đúng thật: mới ngày nào –mùa hạ - bọn tôi với những cánh diều no gió thi nhau đứa nào cao đứa nào thấp cũng ngay trên cánh đồng này.

Cũng những chiều mùa hạ có gió, lại có thêm sự xuất hiện của con diều cậu tôi. Đây là con diều lớn nhất xóm, nội hai cái cánh thôi cũng dài hơn một mét. Thật là thứ diều của người lớn vì rất khó làm. Nội chuyện cột dây “lèo” dưới ngực nó không thôi để cho con diều bay được cũng khó lắm rồi. Một thứ rất đặc biệt nữa -- nó mang tới 3 ống sáo trên lưng- thứ sáo này một tay ‘nghề’ tận Gio Linh làm ra. Con diều cứ mãi ăn gió bay thâu đêm cùng vơi tìếng sáo nghe “O.. O “ vui tai, bất tận. Sợi dây diều làm bằng loại dây gai loại to, mua trên Chợ Tỉnh mới có, dây cứ căng mãi trong đêm. Đây là thú chơi diều của người lớn, tụi nhỏ như bọn tôi không bao giờ làm được, hơn thế nữa sức yếu làm gì kéo nỗi.

Tiếp đến cái cảnh những thửa đất cày khô nứt nẻ, cảnh mấy bác nhà nông hai thôn Hạnh Hoa, Cổ Thành đập đất bằng cái chày vồ. Những tảng đất cày to lớn, được cày lật lên từ lâu, khô cứng dưới ánh nắng gay gắt mùa hạ. Những cái đập đều tay chắc nịch, đầy bụi mờ, rồi những giọt mồ hôi mệt nhọc, mấy bác kiên trì đập mãi cho xong thửa đất.

Đó là chuyện mùa hè, mùa nghỉ học, mùa thả diều, mùa đá rế, mùa của trò chơi ‘đá lon’ hay “ hô la manh” (haut –la main ?).

Thu đã qua, lũ bạn tôi đi học lại ít tháng thì trời chớm đông. Tháng mười, giờ trước mắt tôi đang là mùa lụt, mùa của “ông tha mà bà chẳng tha”. Tuổi nhỏ rong chơi, vô tư vui thú trong cái nhịp điệu nắng mưa của trời đất, của một miền Trung khô căn cát đá, nắng dãi mưa dầu. Bữa cơm mùa lụt, chợ đò ít đông nên món ăn chẳng có chi. Có khi bữa cơm chỉ là mớ cá “lòng tong” mạ tôi kho sỗi với ít ớt, ít gừng nhưng sao ngon miệng lạ lùng.

Thời gian qua nhanh, băng băng như giòng lụt năm xưa đó. Những thăng trầm thời cuộc kéo thêm những lở lói của núi rừng Trưòng sơn cùng những loang lổ của lịch sử và luôn cả tâm hồn nhân thế .

Trường Sơn loang lổ, bị ‘lóc da xẻo thịt’ từng ngày. Thiên hạ còn đốt phá rừng xanh chạy theo miếng cơm manh áo. Bởi thế từ phương xa, mỗi khi tôi nghe tin lụt quê hương, ôi chỉ toàn là tin chết chóc thảm thương. Lụt mỗi năm mấy trận, lụt “răng lụt mãi rứa hè?”, trận này chưa dứt thì tiếp nối trận kia, lại còn hung hãn tàn ác khác xưa nhiều lắm. Những cơn lụt “Thế Kỷ-thuật ngữ sau 1975” thứ lụt mà cả đời ông già bà lão cũng chưa từng ‘chộ’, chết chóc, nhà trôi, người dân quê ngoại tôi hôm nay quá nhiều thống khổ, vừa qua chiến tranh bom đạn giờ thì lại vật vả, lo âu, hồi hộp theo từng trận mưa cơn gió và cứ thế hàng năm cái đói cái lạnh, thiếu ăn rách nát sao mãi đi cạnh cuộc đời ?

Tôi lại càng nhớ câu hát ngày xưa mà cậu tôi thường nghêu ngao:

“ …quê hương em nghèo lắm ai ơi

mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu ăn,”

(Phạm đình Chương)

Sông Hương hay Thạch Hãn cũng giống nhau, cũng nước trong leo lẻo, giòng chảy lững lờ và giống nhau hơn hết là cùng nghèo cùng khổ như nhau. Xa nhau chẳng mấy dặm đường, quê Nội tôi có giòng Hương giang thơ mộng và quê Ngoại tôi, nơi tôi sinh ra và lớn lên có giòng Thạch hãn hiền hòa theo năm tháng.

Tiên tri trong câu hát của cố nhạc sĩ Phạm đình Chương vần còn vận vào số mang người dân quê ngoại đến tận bây giờ không hề thay đổi. Quê ngoại vẫn còn, giòng Thạch Hãn vẫn còn , nhưng người dân quê ngoại càng khổ càng lo . Ốm o gầy mòn, thiếu ăn thiếu mặc sao mãi hoài đậm nét. Và càng đói càng thiếu, rừng Trường sơn càng bị đốt phá càng mang thương tật, sứt mẻ, tang hoang. Rồi hàng năm cơn giận dữ của thấn Thuỷ Tinh sẽ mãi gầm thét không thôi. Tháng mười “ông tha mà bà chẳng tha”, muôn triệu khối nước mà Ông Trời trừng phạt sẽ dằn lên những đôi vai còm cõi của dân nghèo, lên những tấm thân khẳng khiu, xác xơ của “mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu ăn” của người dân Quảng Trị .

Và nếu như thế, tôi biết rằng quê ngoại tôi vĩnh viễn không còn cái “thú vui thơ dại ” như xưa được nữa. Một thuở có những tháng mười “ông tha mà bà chẳng tha” bọn tôi tha hồ đi ‘chơi lụt’, đi lội lụt. Nhưng, những cơn lụt ‘dễ thương’ này chỉ có trong quá khứ, một quá khứ mà bọn tôi nhớ mãi suốt đời .

San Jose chớm thu 2008

Đinh Trọng Phúc

__________________

Không có nhận xét nào:

Người theo dõi