Thứ Bảy, 19 tháng 6, 2021

EM TÔI: TRẦN QUỐC TRIỀN, NGƯỜI ĐI LÊN TỪ MUÔN VÀN KHÓ KHĂN - Trần Quốc Phiệt




Em Tôi: Trần Quốc Triền,
Người Đi Lên Từ Muôn Vàn Khó Khăn

                              Bài viết của Trần Quốc Phiệt

Thế mà chú ấy đã khuất bóng đời non bảy năm rồi, ngồi một mình ngẫm lại như mới ngày hôm qua. Tất nhiên thời gian rồi cái gì cũng sẽ phôi pha nhạt nhòa, nhưng vết bầm này thì hằn sâu quá kỹ.


Thật ra tôi chưa muốn khơi lại cái sự mất mát quá lớn lao đó, vì chẳng biết lấy gì để bù đắp vào được, đành phải cố gắng giữ thái độ bình thản bằng cách im lặng, nhưng dẫu không khơi lại thì chính nó vẫn cháy âm ỉ trong lòng.

Nhiều lần anh em trong gia đình gặp mặt, trước bàn thờ, nhìn vào di ảnh, chúng tôi không giao ước mà vẫn trùng hợp, cùng nhìn nhận một sự việc như nhau và không một ai nói một bất cứ điều gì về chú ấy. Ai cũng giữ kín trong lòng một nỗi xót xa ngậm ngùi, vì chắc chắn lời nói ra sẽ đi kèm theo dòng nước mắt.

Con gái đầu của chú ấy, đã vài lần nói với tôi về Ba cháu trong sự đau buồn thương nhớ, thật thấm thía với nỗi đau của cháu mình, nhưng còn lời nào để chia sẻ và an ủi. Tôi đành lảng tránh bằng câu trả lời “lâu rồi mọi sự sẽ phôi pha”, hãy sống bình thản cho những ngày kế tiếp, hãy mạnh dạn dấn bước tiến lên.

Nhưng hôm nay tôi đang chuẩn bị viết về chú em tôi theo yêu cầu của một đồng môn Nguyễn Hoàng.

***

Năm 1953, giữa mùa đông rét buốt mưa dầm gió bấc ở cái xứ vốn đã nghèo nàn lại càng tiêu điều thêm bởi chiến tranh dai dẳng. Tại làng An Lưu, Quảng Trị, một chú bé vừa chào đời, hai ngày là phải xa mẹ, năm ngày kế sau, tại bệnh viện Quảng Trị, bà vĩnh viễn lìa trần. Chú bé tội nghiệp ấy được đặt tên là Trần Quốc Triền. Đó là đứa em bất hạnh của người viết bài này.

Vâng, đúng là chú em tôi có một cuộc đời không giống như mọi người, ngay từ tấm bé đã không hề được mẹ bồng bế trong vòng tay. Không hề thấy di ảnh mẹ mình, vì qua chiến tranh nhà tan cửa nát “Lửa bao lần bốc xám mặt quê hương…”  Tất cả đã là tro tàn xác vụn tả tơi.

Trong chuỗi ngày tang thương u buồn đó, dưới căn nhà tranh vách đất lè tè, đã ấn sâu trong trí óc tôi, khi vừa lên tám, bao nhiêu điều không bao giờ quên được.

Làm sao tôi có thể quên được tiếng nấc nghẹn ngào của những người trong gia tộc mỗi lần nhắc đến mẹ tôi. Những bữa ăn đạm bạc, bên cạnh ngọn đèn dầu leo lút là một chén cơm và đôi đũa.

Làm sao tôi quên được tiếng khóc của chú em tôi thèm vú mẹ, và tiếng à ơi gà trống nuôi con lắc nôi dỗ dành, hòa trong âm thanh buồn bã của côn trùng réo gọi giữa những đêm dài buốt lạnh quạnh hiu.

Làm sao có thể quên được mỗi buổi chiều chị tôi, cô gái chưa đầy mười hai tuổi, phải bồng chú em đi quanh xóm để xin bú dạo. Nhưng chưa hết, vài tháng sau, Ba tôi bị Tây bắt nhốt vào nhà lao Quảng Trị. Anh chị em côi cút đùm bọc lấy nhau, cháo rau qua bữa.

Tuổi thơ của chú ấy bắt đầu những ngày như thế đó, trước khi có cuộc sống bình thường để học hành thành đạt. Tất nhiên trong hoàn cảnh như vậy nuôi nấng cũng rất gay go, có điều may mắn là không ốm đau lặt vặt. Và đặc biệt nhờ Bà O, húy danh là Trần Thị Hốt, chị của Ba tôi tận tình chăm sóc mem búng, đó là công lao trời biển, anh chị em chúng tôi khắc dạ ghi lòng. Hiện bàn thờ Bà O Trần Thị Hốt được đặt trong nhà chú Trần Quốc Triền.

Trần Quốc Triền ngay từ nhỏ đã biểu hiện nhiều nét thông minh. Gia đình tôi các bà O đọc thì phải đánh vần nhưng truyện Kiều lại thuộc vanh vách. Ba tôi thì thơ phú đầy mình, nên mọi giao du hằng  ngày với bạn hữu, Chú ấy chỉ ngồi lắng nghe mà thuộc cả.

Lên bốn tuổi đã qua nhà hàng xóm, đọc những gì “nghe lóm” đó cho người khác thưởng thức. Có lần chiều tối cả nhà phải đi tìm trong lo lắng, sợ chú đi tắm ao đìa sa chân sẩy cẳng, ai dè đến nhà người ở tận đường Quan ngồi đọc thơ cho cụ già nghe.

Ở bậc tiểu học là một học sinh xuất sắc trong trường, luôn chiếm vị thứ nhất tất cả các lớp. Năm cuối cùng ở bậc nầy, Thầy Trần Xuân Yên, Hiệu trưởng trường tiểu học  An Lưu, cũng là giáo viên lớp Nhất, rất thương và đặt tin tưởng ở trò Triền. Vào thời gian đó Ba tôi là Hiệu Trưởng trường tiểu học Triệu Lăng. Khi cùng vào họp trong Ty Tiểu Học Quảng Trị, Thầy Yên nói với Ba tôi rằng: “Thầy yên chí, kỳ này thi vào đệ thất Nguyễn Hoàng, em Triền phải có tên thôi…”

Theo dõi việc làm bài thi của em mình, tôi phát hiện điều đặc biệt ở phần nhập đề luận văn để mở đầu cho lời bình giải câu ca dao “……” là có nhận xét sâu sắc, lối mở đề gợi sự tò mò cho người xem…và dự đoán là chú em tôi có khiếu văn chương.

Đúng vậy, sau này Trần Quốc Triền cũng vào ngồi ban C. Học hành ra sao thì tôi không theo dõi nữa. Chỉ biết rằng chú ấy không hề rớt kỳ nào, cho đến khi vào Huế học Đại Học Sư Phạm Đệ Nhị Cấp ban Anh văn. Tốt nghiệp năm 1975.

Tuy sinh viên Trần Quốc Triền là một Phật tử nhưng được chấp nhận nội trú ở Cư Xá Sinh Viên Xavier, do Linh Mục dòng Tên Thiên Chúa Giáo sáng lập và điều hành, tại số 4 bis Lê Thánh Tôn, Huế, bốn năm liền, nhờ thông qua thư giới thiệu của hai vị Linh Mục giáo xứ Thạch Hãn, Long Hưng và thành tích trong học bạ các lớp bậc trung học.

Ngoại lệ đó đã được Cha Giám Đốc người Tây Ban Nha, kế nhiệm Linh Mục Jacques De Leff chấp thuận, khi xem kết quả học tập và lời phê của quý vị giáo sư từng phụ trách. Tại nơi này, chú em tôi đã được quý Cha tận tình động viên và giúp đỡ. Bây giờ những vị này đều đã là người thiên cổ, nhưng gia đình chúng tôi luôn nhớ ơn những ân nhân cao quý ấy. Và xin ghi nhận tình cảm thắm thiết tương thân, đồng môn, đồng hương… những bạn hữu của chú em tôi.Tất cả đều là sức đẩy cho chú ấy từng bước đi lên.

Chú em cũng làm thơ khi còn rất trẻ, Đệ Tam, Đệ Nhị đã có thơ đăng trên Văn, Văn Học, Bách Khoa với bút hiệu Trần Lưu An.

Là một Phật Tử thuần thành với pháp danh Tâm Tuyền. Trong gia đình chỉ có Cô Lê Thị Thùy Tiên, con gái của Bà O em Ba tôi, cùng đi sinh hoạt Phật Tử với Triền từ khi còn ở làng. Sau này Tiên cũng là nữ sinh Nguyễn Hoàng, chú Triền là người hướng dẫn việc học hành thi cử cho cô ấy.

Trong một tập Chân Dung và Kỷ Niệm, tôi chỉ đọc lại bản copy, Cô Tiên đã viết bài “Còn Mãi Bên Nhau, tưởng nhớ anh Trần Quốc Triền, rất chí tình, dạt dào thương nhớ.

Cũng qua Chân Dung và Kỷ Niệm, trong một bài khác với nhan đề “Về Một Người Đã Ra Đi…”  của bạn học của chú Triền là anh Nguyễn Khắc Phước, mà tôi đã tìm lại được những dấu chân của chú em mình. Và như nghe văng vẳng đâu đó giọng ồ ồ của chú ấy đang ngâm bài thơ lục bát “Đỉnh Mù”… để cảm nhận nỗi xót xa trầm ngâm.

“Lên cao mới biết trời gần
Dăm cây trụi lá trơ cành mân mê
Nỗi buồn trắng đục nằm kề
Mờ câm hơi đá lối về còn xa…”
  
Số bài thơ của Trần Lưu An hiện tôi có không nhằm nhò gì so với số đã viết ra, bị thất lạc rất nhiều sau cơn binh lửa, trong những lần di tản. Bài tôi ưa ý nhất là Quảng Trị 72.

Xin ghi ra đây để cùng dành một phút lắng sâu với nỗi niềm về quê mẹ.

Quảng Trị 72

                     Trần Lưu An

Phố xá nớ chừ nghe tiêu điều lắm
Xa quá rồi sao thăm được nữa đây
Trong trí tưởng đàn quạ đen lẳng lặng
Bóng nhập nhòa theo bóng nắng lắt lay.

Cây thôi còn để mùa thu rụng lá
Tổ mất rồi se sẻ cũng bay xa
Nhà tan hoang và người đi chốn lạ
Đêm tiếp ngày thêm những giọt đắng cay.

Lúa thôi vàng trong ruộng cày bằng đạn
Khoai thôi xanh luống đất tưới bằng bom
Dòng Thạch Hãn nghe trăm chiều ly tán
Nhớ nhịp chèo xưa con nước nỉ non.

Người sống đó và người đã chết
Hồn tưởng chừng lạnh buốt heo may
Vẳng ai gọi tiếng sao mà tha thiết
Vẫy nhau hoài chấp chới một bàn tay.
1972

Ai ngờ rằng đằng sau tâm hồn thơ văn lai láng ấy lại là một con người say mê võ thuật: Thái Cực Đạo,và Không Thủ Đạo. Riêng Thái Cực Đạo đã đạt được đai đen thời còn là học sinh trung học,đó là nhà giáo Trần Quốc Triền.

Tuy đã có bằng cấp cử nhân, tốt nghiệp sư phạm đại học đệ nhị cấp khoa Anh ngữ, nhưng những bước đi đầu tiên trên vùng biển xanh trời trong cát trắng Nha Trang cũng lắm gian truân. Rồi ra thì giá trị của trí tuệ cũng còn chỗ đứng, khi đó một khung trời ấm mới mở bừng lên.

Có một thời gian chú Trần Quốc Triền làm cho công ty cà phê. Vì nhu cầu cần một người thông thạo Anh ngữ nên chú ấy được đi khá nhiều Quốc Gia trong khu vực Châu Á cũng như Châu Âu. Đặc biệt năm 1994, Chú ấy đã được đến Hoa Kỳ với vai trò thông và phiên dịch, nhưng tôi đọc trong Business Card thấy ghi bằng Anh ngữ là Phó Giám Đốc Giao Dịch.

Sau này chú trở lại ngành giáo dục, chức vụ sau cùng là trưởng bộ môn tiếng Anh trường chuyên Lê Quý Đôn, Nha Trang

Ngoài ra chú ấy còn điều hành Trung Tâm Ngoại Ngữ Hàn Thuyên ( Han Thuyen foreign Language Centre) cũng tại thành phố Nha Trang.

Là người chịu đọc, chịu học để thăng tiến trí tuệ nâng cao hiểu biết. Cho nên khi đã ổn định vẫn tiếp tục học để lấy MA (Master of Arts). Lớp đầu tiên của chương trình Fullbright. Tôi không rõ ở quê nhà học vị hậu đại học đó được gọi là gì, nên xin ghi lại bằng tiếng Anh.


Cuối mùa hạ năm  2005, chú em Trần Quốc Triền của tôi đã lìa trần, sau sáu tháng nằm bất động vì tai biến mạch máu não. Để lại biết bao thương tiếc cho gia đình, bà con, bạn hữu và đồng nghiệp, bảy năm đã trôi qua, chưa vơi được xót xa ngậm ngùi.

Nhân ghi lại sự kiện đau xót này, xin tỏ bày lòng tri ân đến quý bà con, đồng nghiệp, đồng hương, đồng môn, thân hữu và môn sinh … đã chia sẻ cùng gia đình chúng tôi vào những tháng ngày đen tối ấy.

Trong nỗi xót xa thương tiếc, tôi đã viết bài thơ “Hoài Cảm” như là lời tâm sự với chú em mình, xin ghi lại nguyên văn như sau:

Hoài Cảm

         Hạ Thái Trần Quốc Phiệt
   Viết để thương tiếc Trần Quốc Triền
                    (1953 -2005)

Năm ba tuổi (53), chưa có lần thấy mẹ
Em vội về gặp mẹ ở bên kia
Tóc muối tiêu, anh ngỡ em còn bé
Mãi thương em như thuở mẹ lìa đời.

Em bước đi một quảng đời trăn trở
Buổi bú nhờ vú lạ những người quanh
Mẹ đi rồi, tưởng em chết trăm phần
Ơn phước lạ em lớn lên bừng sáng.

Chừ tháng năm đã đi vào dĩ vãng
Mà dễ đâu quên được chuỗi lăn trầm
Đời chông gai em vượt lắm gian truân
Mới thành đạt nên danh, sự nghiệp

Rồi hôm nay nghe em vĩnh biệt
Anh lặng người mắt lệ ướt mi quanh
Mẹ sinh em chưa dỗ ngọt một lần
Thiếu thốn đó, gia đình thương em lắm.

Anh hạ bút dòng thơ, môi đang đắng
Mắt anh quầng vì khóc ngót nửa năm
Nói gì thêm khi đời đã định phần
“Tử vô kỳ, sinh thì hữu hạn”

Nơi xa xôi trời ở đây cũng xám
Mây giăng buồn tím nhạt tận đồi xa
Anh quặn đau lòng trăm nỗi xót xa
Chữ u mê sao trải lòng anh thẳm
Mất em rồi, ôi vô vàn cay đắng
Lời khôn cùng, thương nhớ lắm em ơi!

Ngày 05 tháng 9 năm Ất Dậu
07 – 2005

Bài thơ viết rất nhanh và gởi liền bằng email, nhưng đang trong thời kỳ xây lăng, nên non cả tháng sau mới đọc cho người quá vãng trước mộ phần. 
Trong một bài khác của anh tôi với tựa đề “Khóc Em” có những lời tâm huyết như vầy:
……………………………….
Hứa hẹn anh em lại gặp nhau
Vơi đầy tâm sự suốt đêm thâu
Lật trang kỷ niệm thời thơ ấu
Dấu ấn còn đây, em ở đâu?
………….......Trần Hữu Chước

Tôi biết rằng Thím Triền và các cháu không thể đọc vì bị xúc động, nên người đọc là một đồng hương, đương nhiệm thư ký của chú Triền trong trung tâm ngoại ngữ Hàn Thuyên.

Người đã tự nhận là:

1 - Lời ngỏ

Nửa đời em chẳng biết làm thơ,
Trần gian ai có học chữ ngờ,
Thầy đi để lại bao thương tiếc,
Khóc thầy nước mắt kết thành thơ.

Người đồng hương thư ký, chỉ ghi  tên Thổ, thay lời Giám Đốc Trần Quốc Triền để nhận và hồi đáp thơ gởi từ phương xa. Bài thơ gồm 14 khổ, viết về các tình huống khác nhau của các thành viên trong gia đình, vắn tắt nhưng rất xúc động. Xin trích vào đây ba khổ, và kính gởi lời đa tạ Chị Thổ.
……………………………………
8 – Nghe Đọc Thơ Hai Anh

           Nghĩa trang Phước Đồng
           chiều Chủ Nhật 30-10-05

Em đọc thầy nghe, hồn đứng lặng,
Hồi lâu, thầy nói: “cám ơn cô”
Cám ơn cô đã đọc thơ,
Nhịp cầu đã nối đôi bờ âm dương,
Lời thơ chan chứa tình thương,
Hồn tôi còn mãi vấn vương cõi trần.
………………………………………
9 - Hồi Âm

Em nhận thư anh một buổi chiều,
Mây trôi ảm đạm gió đìu hiu,
Bên ngôi nhà mới nồng hương khói,
Lời thơ sưởi ấm giấc cô liêu.
…………………………………
Trong nỗi nhói đau khi nhắc lại sự mất mát gần đây và những ngày tháng u ám xa xưa, cũng có một chút an ủi nhẹ nhàng về những bước vươn lên từ vũng bùn đen của em tôi.

Tất cả đã khởi đi từ muôn vàn khó khăn, và cũng đã chấm dứt vào cái ngày oan nghiệt giữa năm 2005. Hoài niệm những bước đi qua từng chặng đời của chú ấy, với biết bao là nhớ thương và tiếc nuối. Tất cả đã vào quá vãng khi ngậm ngùi ngoái lại tháng ngày qua:

Còn ai giẫm trên bãi biển Nha Trang những buổi chiều vàng phai nắng nhạt.
Còn ai để nghe âm vang sóng dồn, dương reo Cam Ranh, Đại Lãnh…..
Còn ai  trở về đứng bên Tịnh Tâm, Trường Tiền, Thương Bạc… nhìn con thuyền lướt ánh trăng, lắng nghe câu hò mái đẩy…
Còn ai dừng chân bên cầu Ba Bến ngắm dòng sông Vĩnh Định mặt nước lững lờ trôi.
Còn ai  ghé qua Chợ Hôm, Chợ Cạn để người quen kẻ biết niềm nở chào hỏi thân thương…
Còn ai in bóng trên đường làng, lối xóm, hớn hở tay bắt mặt mừng dưới hàng tre già vang lời chim mừng mùa lúa mới…

Thế là hết, Trần Quốc Triền đã giã từ tất cả.
Xin ghi lại vài hàng chân tình mộc mạc này để chiêu niệm những chặng đời từng có bên nhau. Với lời nguyện cầu cho người khuất bóng sải cánh an bình về phương trời tịnh độ.

Trần Quốc Phiệt
Ca.USA  03-2012



Phước đăng


Thứ Tư, 7 tháng 4, 2021

Mùa Xuân nào con về?

MÙA XUÂN NÀO CON VỀ?

Lê Văn Tiến


- Khi mô con về thăm mạ, lúc ni mạ yếu  rồi con nhớ về sớm nghe

Mỗi lần tôi gọi điện thoại về Mẹ tôi đều nói như thế. Tuy tôi có những lời trấn an mẹ  nhưng lòng tôi không khỏi ray rứt. Hơn hai  mươi năm sống ở xứ người chưa có một cái tết nào tôi về thăm mẹ, ở bên mẹ trong những ngày xuân đầm ấm như hồi còn tuổi thơ. Tết này tôi được một tháng phép để về với mẹ về với quê hương làng xóm mà trong ký thức tôi luôn là một búc tranh thật tuyệt vời. Hành lý đã chuẩn bị xong. Chưa đến mười ngày nữa là tôi được ở bên Mẹ. Hai Mẹ con sẽ tha hồ kể chuyện xưa, chuyện nay, chuyện những ngày Mẹ tôi mỏi mòn trông đứa con xa trở về.

Thu San Jose, gặp bạn... nhớ lớp xưa


THU SAN JOSE, GẶP BẠN... NHỚ LỚP XƯA

Lê Văn Tiến


Trời đã vào thu, thời tiết ở San Jose thay đổi rõ rệt; buổi sáng ngoài trời khoảng 65o F, tôi phải choàng chiếc áo thật dày mới đủ ấm khi ra ngoài. Tiết trời lành lạnh, những hàng cây hai bên đường phủ một màu vàng có sức gợi nhớ bâng khuâng, nao lòng như tranh phong cảnh của Levitan, càng ngắm càng đắm chìm trong ký ức xa xôi. Tâm trạng những ngày đầu thu thật lạ, lúc nào cũng nôn nao như một dự cảm hy vọng. Và đó là cú điện thoại hằng mong; giọng nói nhẹ, trong, nghe vui dù câu đầu tiên là “trách”: Chào Tiến, khỏe không? Sao không trả lời tin nhắn và email của Cúc. Chiều nay Cúc và vợ chồng Lài sẽ đến San Jose, Tiến cố gắng đến gặp bạn nhé!

Dương Thị Lài, người bạn cùng lớp Tam C, hơn 45 năm rồi chưa có dịp gặp lại. Còn Lê Thị Cúc ở Nam Cali. nên thỉnh thoảng có gặp nhau. Tin vui bất ngờ, một cảm giác rạo rực kỳ lạ, bất giác tôi bật máy và nhẩm hát theo giai điệu đằm thắm, sâu lắng:

Anh mong chờ mùa thu

Trời đất kia ngả màu xanh lơ

Đàn bướm kia đùa vui trên muôn hoa

Bên những bông hồng đẹp xinh.... 

***

Theo lời hẹn của Cúc, đúng 6 giờ chiều tôi đến nhà anh Văn Quang Diệp - bạn học trường Bồ Đề với Lài. Nhà Diệp đông đủ bạn bè của Lài và anh Sinh. Chào xã giao mọi người xong, tôi “trố mắt” nhìn Lài, vẫn nụ cười tươi, hiền như xưa. “Lài không thay đổi gì hết, vẫn duyên dáng như những ngày ở Tam C”, tôi nói rất thật lòng.

Nhìn Lài rồi lại nhìn Cúc, những kỷ niệm xa xưa lại ùa về trong tôi. Những khuôn mặt thân thương của Tam C ngày nào, hơn 45 năm rồi bây giờ kẻ còn người mất nhưng kỷ niệm không bao giờ phai nhạt trong tôi. Có người hỏi tôi: Sao không nói về Nhất C, Nhị C mà chỉ nói về Tam C? Không biết tôi có chủ quan không khi viết về Tam C và tôi cho đây là lớp học đẹp nhất trong cuộc đời đi học của tôi. Sau 4 năm dài học đệ nhất cấp, tuổi thơ ngây tôi chưa cảm nhận sâu sắc tình bạn bè và tình thầy cô. Từ giã bảng tên màu đỏ, được mang bảng tên màu xanh trên áo trắng, tôi thấy mình trưởng thành thêm một chút; lên năm đệ Tam tôi cảm thấy hưng phấn hơn vì sắp bước vào ngưỡng cửa của tương lai. Hai kỳ thi tú tài sắp tới, ai cũng gắng sức để đạt được mảnh bằng quan trọng nhất của bậc trung học.

Lớp Tam C có khoảng 40 học sinh, đa số là nữ. Đặc biệt lớp Tam C chúng tôi qui tụ toàn những thiếu nữ xinh đẹp và duyên dáng. Tôi khoe với những người bạn đêm hôm đó: Cúc và Lài là những bông hoa xinh xắn của lớp Tam C chúng tôi đó. Có người hỏi: Thế hồi đó anh có trồng cây si mấy cô này không? Thú thật, hồi đó tôi mới 16 tuổi nhưng cũng cảm nhận được nét đẹp dậy thì của mấy cô thiếu nữ tuổi cập kê; chỉ  cảm nhận thôi chứ không dám nhìn hay tán tỉnh một ai vì nghĩ mình là “hai lúa”.

Lớp Tam C may mắn được cô Võ Thị Hồng làm giáo sư cố vấn. Cô cho phép học sinh gọi bằng chị, tình cảm của cô đối với học sinh trong lớp như tình chị em. Phạm Đình Quát làm lớp trưởng, bây giờ gặp lại anh chàng này chúng tôi gọi là “anh đầu bạc”. Quát đã thành lập blog Tam C 68-69 để kết nối các bạn học cùng lớp, nhờ vậy chúng tôi liên lạc được với nhau dù sống tha phương hay đang sống ở quê nhà. Người gây ấn tượng sâu sắc nhất đối với tôi là cô Tâm Thạnh dạy anh văn. Cô thường mặc chiếc áo dài màu tím, nụ cười hiền hòa luôn nở trên môi. Cô Tâm Thạnh ít nói nhưng luôn thể hiện sự quan tâm đến học sinh nhất là những đứa học sinh nghèo như tôi. Năm đệ Tam C, kỳ thi bán niên thứ nhất tôi được may mắn làm sơ mi (chemise) môn Anh văn, nhưng rồi kỳ thi bán niên thứ hai tôi không làm bài được. Bài Essay tôi chỉ viết được nửa trang giấy, sau khi chấm bài cô ngạc nhiên và hỏi tôi: Sao em làm bài không được, gia đình em có vấn đề gì không? Tôi bối rối trả lời cô: Dạ thưa cô không có gì, tại ngày thi em bị cảm. Thực ra, lúc đó tôi vừa mất đứa em gái út sau một cơn bạo bệnh nên tâm lý không ổn định. Tôi hứa với lòng mình lần về quê tới tôi sẽ ghé Huế thăm Thầy Cô, trong tâm tư luôn cầu chúc Thầy Cô được dồi dào sức khỏe.

Tiếp đêm hôm đó, tôi được tháp tùng theo nhóm bạn của Cúc và Lài chuyển qua một nhà khác. Nhà anh Sơn chiêu đãi chúng tôi thân tình và... rất “ngon miệng” với những nồi lẩu hải sản tuyệt vời. Tôi được gặp thêm vài người bạn thân quen ở San Jose như anh chị Hùng, anh chị Thưởng, anh chị Hiền… Không khí rất vui vẻ và thân mật. Tôi đang nhâm nhi chai Heineken và trò chuyện với anh Sinh ở nhà trên, chợt nghe vọng lên, chậm rãi, ngọt ngào... “Hà nội mùa này vắng những cơn mưa, cái rét đầu đông khăn em bay hiu hiu gió lạnh, hoa sữa thôi rơi, ta bên nhau một chiều tan lớp, đường Cổ Ngư xưa chậm chậm bước ta về.... Lại thêm bất ngờ nữa, dù tôi đã từng nghe những lời khen giọng hát truyền cảm của Lê Thị Cúc nhưng tôi chưa có dịp thưởng thức. Chưa hết ngạc nhiên, hôm ấy tôi còn dược biết bạn Cúc hiện là trưởng ban văn nghệ của hội ái hữu Nguyễn Hoàng ở Nam Cali. Thật đáng vui và hãnh diện.

Nói về nhân tài của lớp Tam C, còn nhiều lắm. Ngô Hai (nay là Ngô Trọng Hùng), một con người “bí ẩn”, bây giờ mới biết anh ta có rất nhiều biệt tài. Ngoài văn chương, Ngô Hai còn là một họa sĩ khá nổi tiếng ở các tỉnh miền Đông. Tôi vẫn thích mấy câu thơ của Ngô Hai bàng bạc những kỷ niệm tuổi học trò với tình cũ trường xưa:

Tình cờ đất khách gặp nhau

Tuổi xanh nay đã nhuốm màu tóc sương

Nhớ xưa chung học một trường

Ngồi chung một lớp xót thương quê nhà.

Còn bạn Thùy Dương, cô giáo về hưu đã lâu lắm nhưng vẫn chưa bỏ nghề, hiện sống bên dòng Ô Lâu êm đềm; một lần ngang qua mảnh đất trường Nguyễn Hoàng xưa đã xúc cảm thành thơ:

Lần qua lối cũ trường xưa

Mắt mình chợt ướt như mưa năm nào

Lối mòn lá hát xôn xao

Ngẩn ngơ như một thuở nào biết yêu

Để rồi từng giọt nắng chiều

Rót vào tâm tưởng trăm điều tơ vương

Áo ai trắng cả sân trường

Bên hành lang cũ nghe dường phôi pha.

Còn đâu ngôi trường thân yêu với những cành phượng vĩ đỏ thắm sân trường, còn đâu những tà áo trắng vờn bay theo gió. Trường Nguyễn Hoàng chỉ còn trong tâm tưởng của bao thế hệ học sinh nay đã trắng đầu sương gió hoặc đã lui vào thiên cổ.

Bạn tôi, Nguyễn Khắc Phước, con người sống trầm lặng, chân thật. Có lẽ anh chàng này ảnh hưởng từ dòng sông Ô Lâu ở quê nhà hiền hòa và chất phác. Lúc còn đi học, tôi rất mến Phước, hai đứa hay ngồi chung bàn. Phước giống tôi ở nhiều điểm. Xuất thân từ gia đình nghèo lên tỉnh học và tự nhận mình là “hai lúa” nên rất mặc cảm với bạn bè. Phước cũng có một cuộc tình không đoạn kết như tôi, để rồi 30 năm sau người xưa “trách” chàng:

Sao hồi đó anh không cưới em?

Câu hỏi không phải từ tiểu thuyết

Mà chính từ môi em

Giọng buồn da diết

Dấu trong lòng suốt ba chục năm

Sao hồi đó anh không cưới em?

Huế nắng chiều rất êm rất êm

Áo trắng em bay từ Nữ Thành nội

Hai đứa mình lang thang không biết mỏi

Hình như anh chưa cầm tay em.

……..

Còn anh chàng có lối sống phá cách lập dị mà tôi rất ngưỡng mộ: Hồ Sĩ Bình. Lúc còn đi học, hắn đã thể hiện chất “ngông” khi giao du với bạn bè. Tôi và Bình học với nhau từ đệ Thất đến lớp 12 nên biết khá rõ tính tình của Bình, sống bất cần, không thích khen chê ai. Năm 2013, tôi gặp lại Bình ở Đà Nẵng, cũng không khác xưa, vẫn lối sống phóng khoáng của chàng nghệ sĩ. Nhưng ngược lại, trong thơ văn của Hồ Sĩ Bình đượm màu quê hương. Tôi đã đọc qua nhiều tản văn của Bình như: Ai về Chợ Thuận, Nhạn qua sông bóng còn in trên mặt nước, Sông hoa Thành Cổ, Bên triền sông Ô Lâu... Tất cả đều nói lên thân phận trăn trở của con người và nỗi đau quê hương qua cuộc bể dâu biến đổi. Ngôi chợ xưa thay tên, dòng sông cũ mất dấu... tất cả những nuối tiếc đó đếu thể hiện trong thơ văn của Hồ Sĩ Bình.

****

Sáng hôm sau, tôi mời Cúc, vợ chồng Lài ra uống cà phê ở Coffee Lovers, một quán cà phê lớn của giới văn nghệ trí thức ở Bắc Cali. Buổi sáng đầu thu nắng vàng rực rỡ, con đường Capitol trục lộ chính của San Jose tấp nập xe cộ. Chúng tôi có nhiều thời gian hơn để tâm tình giữa ba người bạn và chụp mấy tấm hình lưu niệm. Cúc, Lài và tôi nhắc chuyện ngày xưa của Tam C nhiều hơn. Anh Sinh cũng rất tế nhị, yên lặng để ba chúng tôi  “tâm sự loài chim biển”. Tôi mở đầu câu chuyện. Lúc học Tam C Cúc và Lài có người yêu chưa? Lài nhanh miệng: Lài còn con nít biết chi mô mà yêu. Cúc không trả lời mà “ăn gian” hỏi lại tôi: Rứa Tiến có để ý đến ai không? Tôi bạo miệng, nói “trạng”: Có chứ, Tiến để ý rất nhiều người trong lớp mình như mê mái tóc đẹp ngang lưng của Cúc, thương nụ cười hiền của Lài và thích cái tinh nghịch của Ánh Tuyết, Thu Thủy A và Thu Thủy B. Lài nói: Tiến có nói xạo không đó?. Tôi thầm nghĩ, lúc đó tôi cũng chỉ là gã cù lần làm gì có chuyện yêu đương tán tỉnh ai. Câu chuyện giữa ba chúng tôi đang sôi nổi thì điện thoại reo vang. Thể Tần gọi: Xin lỗi Tiến, miss call không trả lời kịp. Ba người gặp nhau vui không? Tôi trả lời Thể Tần: Rất vui sao Tần không đến San Jose gặp tụi này. Tần đang có việc làm, không đi được, hẹn gặp các bạn ở Việt Nam sang năm. Tôi cũng có mong muốn như Thể Tần, Tam C nên có một cuôc hội ngộ ở quê nhà.

Sau khi đến thăm nhà Kim Thanh - cũng là một người bạn của NH 64-71, nhưng Kim Thanh học ban B Pháp văn - tôi đưa Cúc ra phi trường để về lại Nam Cali, vợ chồng Lài về sau. Lài và Cúc ôm nhau khóc làm tôi cũng bùi ngùi. Bạn bè mấy mươi năm gặp lại rồi chia tay, làm sao không vương vấn. Trên đường vào phi trường tôi tâm tình với Cúc, sau này về hưu tôi muốn về sống ở quê hương. Hơn hai mươi năm sống trên xứ người tôi luôn cảm thấy thiếu vắng một cái gì thật thiêng liêng; đó là tình quê hương.

Tiễn bạn đi rồi, tôi lái xe về một mình mà thấy lòng nao nao. Nhìn bầu trời trong xanh, những chiếc lá vàng chao liệng theo gió như những bàn tay vẫy chào. Vậy đó, cuộc hội ngộ nào rồi cũng có lúc chia tay, cầu mong các bạn Tam C dồi dào sức khỏe để chúng ta có cơ hội gặp nhau đông vui hơn.


San Jose mùa Thu năm 2015

Lê Văn Tiến








Thứ Tư, 23 tháng 12, 2020

QUẢNG TRỊ ĐÔNG VỀ - Thơ Lê Văn Tiến

 

Quảng Trị Đông Về

 

Ánh dương dần khuất phía chân mây

Bầy nhạn bay về chốn nào đây?

Đông đến bâng khuâng miền gió lạnh

Tìm em ta nhớ lúc sum vầy

Thuở đó em anh một mái trường

Đông qua xuân đến vẫn yêu thương

Trò chơi thuở nhỏ sao quên được

Em làm cô dâu má ửng hồng

Anh là chú rễ nghe là lạ

Hai đứa cùng mơ một mái nhà

Thế rồi chinh chiến ngập quê hương

Anh theo binh lữa chốn sa trường

Em làm cô giáo phương trời cũ

Cách biệ̣t nhưng mà vẫn nhớ thương

Quảng Trị bây giờ mưa vẫn bay

Nhớ em ta rót chén rượu say

Lại nhớ đêm nào nghe mưa đổ

Hai đứa cùng nhau một vòng tay

Quảng Trị đông về lại nhớ em

Nhớ bờ tóc xỏa ngát hương đêm

Vai gầy ánh mắt vòng eo nhỏ

Hồn ta có phải quyện vào em?

Bây giờ Quảng Trị dấu hồn thơ

Ánh đèn phố thị choán trăng mờ

Hồn ta sao vẫn còn lạnh lẽo

Nhìn phố bâng khuâng, phố hửng hờ

 

Lê Văn Tiến

Mùa đông 2020

<levan042003@yahoo.com>;

<terryle2017@gmail.com>

 

 

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2020

Hội ngộ trên xứ người - Lê Văn Tiến

 

Mùa Thu lại về, sau những ngày hè nắng nóng và khô hạn. Những mảng cỏ xanh bắt đầu hồi sinh nhờ những cơn mưa thu dịu mát. Những hàng cây hai bên đường cũng từ từ thay màu lá. Tận dụng phong cảnh hữu tình tôi có một chuyến du lịch East Coast. Hành trình về phía đông nước Mỹ đi qua 10 tiểu bang và hơn nửa nước Canada. Thật thú vị vì được nhìn ngắm những phong cảnh hữu tình và những thành phố vĩ đại của xứ cờ hoa. Trên đường du lịch tôi nhận được tin nhắn của người bạn thân: ”Tiến nhớ về San Jose kịp để gặp tụi này nhé” Đó là lời nhắn trên messenger của Lê Thị Cúc Tam C 6869. Thế là đến hẹn lại lên. Cứ mỗi độ thu về tứ cô nương: Lài, Cúc ,Thủy và Thể Tần cùng tôi có cuộc hội ngộ trên xứ Cali nắng ấm tình người. Nhưng năm nay rất tiếc Thể Tần bận công việc nên không đi được. 


https://c1.staticflickr.com/5/4568/38470807592_231611a182_b.jpg


Hết năm này tôi được về hưu, trước khi gác kiếm trở về vui thú đìền viên tôi đã có 10 ngày nghỉ phép. Boss khuyến khích tôi nên đi xả stress một chuyến. Tôi chọn gói du lịch miền Đông nước Mỹ vì ở đó có các thành phố lớn như New York, New Yersey, Washington DC, Philadelphia, Massachusetts vân vân. Thú thật đến định cư Mỹ hơn 22 năm nhưng tôi chưa có cơ hội đi du lich khắp nước Mỹ, nên đây là dịp tôi có một chuyến “Đông tiến”nhiều li kỳ và hấp dẫn. Nhờ chuyến du hành tôi được Tour Guide hướng dẫn đi tham quan những nơi quan trọng như toà nhà Quốc hội Mỹ, Toà Bạch Ốc, Ngũ Giác Đài, Tượng Nữ Thần Tự Do và các trường Đại Học nổi tiếng như Học Viện Quân sự West Point, Trường Đại học Havard, trường Đại học MIT. Miền Đông nước Mỹ cây cỏ xanh tươi nhờ mưa thuận gió hoà. Xe bus đưa chúng tôi qua những cánh rừng màu vàng rực rỡ  như  những phong cảnh trong phim Hàn quốc. Mãi mê ngắm nhìn cảnh thiên nhiên tôi ngâm nga bài hát ”Thu quyến rũ” của Đoàn Chuẩn-Từ Linh:

“Anh mong chờ mùa thu

Trời đất kia ngả màu xanh lơ

Đàn bướm kia đùa vui trên muôn hoa

Bên những bông hờng đẹp xinh…”

Đoàn du lịch của chúng tôi gần 40 người, hầu hết là người Việt, một số người Hoa và người nước ngoài định cư ở Mỹ. Hướng dẫn viên du lịch do công ty du lịch mướn những người địa phương. Họ làm nghề chuyên nghiệp và thông thạo mọi thông tin địa phương để thuyết trình cho khách du lịch am hiểu những thành phố và những danh lam thắng cảnh mà du khách đi qua. Sau bốn ngày tham quan miền Đông nước Mỹ chúng tôi đi qua biên giới đến nước Gia Nả Đại. Điểm du lịch đầu tiên ở Canada chúng tôi được tìm hiểu về Thác Niagara Falls nằm giữa biên giới Mỹ và Canada. Niagara Falls được liệt kê vào danh sách một trong 10 thác lớn nhất thế giới. Đây là phong cảnh nổi tiếng đã được nhiều hảng phim của Hollywood mượn cảnh đóng phim đặc biệt tài tử nổi tiếng Marilyn Monroe và Joseph Cotten từng đóng phim Niagara Falls Vies xuất bản năm 1953. Tại địa điểm du lịch chúng tôi được xem phim nói về lịch sử thác Niagara Falls và chuyện tình của Trinh nữ  xứ sương mù “Maid of the mist”. Sau đó được du thuyền đưa ra giữa dòng thác nhìn thác đổ từ trên cao cuồn cuộn phủ đầu chúng tôi, cảm giác thật ghê sợ như mình bị cuốn hút vào cơn bão nước.Tham quan thác Niagara Falls tôi bùi ngùi nhớ về Đà lạt. Thành phố sương mù miền cao nguyên cũng có nhiều thác đẹp như Datanla, Pongour, Prenn. Bốn năm hoc ở Trường Võ Bị Đà Lạt vào những ngày cuối tuần tôi thường đến vui chơi những nơi này. Có những mối tình bắt đầu từ những dòng thác này ”Trên dốc đá tôi tình cờ quen nàng. Ngồi bên nhau gọi tên nhau để rồi xa nhau…” Rồi chúng tôi rời xa Đà Lạt xa những dòng thác cao nguyên  với muôn vàn kỷ niệm khó quên. Mong có ngày gặp lại nhưng sợ cảnh cũ người xưa không còn nữa. Tôi chợt nhớ bài thơ: Hai mùa thu Đà Lạt của Lệ Khánh

“Hai mùa thu Đà Lạt

Trời mưa rưng rưng hoài

Ân tình em mất mát

Nhưng nào đâu trách ai

Bây giờ trời vào thu

Cho em nhiều kỷ niệm

Mình quen nhau ngày xưa

Chừ xa rồi lưu luyến”


Image result for cảnh đà lạt


Đến Canada chúng tôi được tham quan qua những thành phố Toronto, Ottawa, Montreal, Quebec. Hầu hết các thành phố lớn của Canada đều kiến trúc theo kiểu Pháp vì Canada ngày xưa là thuộc địa của người Pháp. Đăc biệt dân sống trong các thành phố này nói hai ngôn ngữ Pháp và Anh nhất là thành phố Quebec 90% nói tiếng Pháp tên đường và các thương hiệu kinh doanh cũng viết bằng tiếng Pháp. Tham quan thành phố Quebec chúng tôi bất ngờ được nhìn thấy tượng danh nhân Nguyễn Trãi được nằm trong một công viên cùng với các danh nhân trên thế giới. Đó là niềm hãnh diện cho người Việt Nam chúng ta khi sống trên xứ người. Điểm du lịch cuối cùng ở Canada chúng tôi được du hành theo con sông dài nhất Canada đó là sông Saint Lawrence River. Đặc biệt trên con sông nổi tiếng này có đến trên 20 ngàn hòn đảo lớn nhỏ (Twenty thousand Islands). Những người giàu có ở Mỹ và Canada thường đến đây để làm những căn nhà nghỉ mát và tận hưởng vẽ đẹp thiên nhiên trên những hòn đảo này.

Sau 10 ngày du lich tôi trở về San Jose được vài ngày thì đón ba cô nương đến từ ba tiểu bang. Thu Thuỷ A từ Hawaii, Lài từ New Yersey và Cúc từ Los Angeles. Chúng tôi gặp nhau ở Bến xe đò Hoàng trong khu thương xá Lion của người Việt Nam. Tay bắt mặt mừng vài lời tâm sự và hỏi thăm sức khỏe sau đó tôi chở các bạn về nhà Hoa bạn học trường Bồ Đề của Lài. Như đã hẹn trước anh chị Lê Thi mời về nhà dự buổi tiệc liên hoan đầu tiên khi phái đoàn đến San Jose. Lê Thi là cũng một thành viên của Nguyễn Hoàng 6972.Tôi rất thân với vợ chồng Thi Hằng, mỗi lần có các bạn là cựu hoc sinh Nguyễn Hoàng hay cựu SVSQ Võ Bị về thăm San Jose đều được Lê Thi mời về nhà ăn ở free, nên chúng tôi thường gọi nhà của Lê Thi là “căn nhà tình thương”. Thêm vài người bạn của Lài và Cúc có cả vợ chồng Kim Thanh NH6471 tham dự hôm đó. Anh Sinh ông xã của Lài, ai cũng khen có mái tóc bạch kim trắng xóa và vẽ đẹp phương phi của anh ấy, Lài nghe chắc cũng nở to cái mũi. Mọi người được thưởng thức những món ăn đậm đà quê hương do Lê Thi tự tay đạo diễn đặc biệt có nồi lẫu Thái Lan rất hấp dẫn cá bông lau và rau cải thật tươi tắn. Không khí buổi tiệc thật ấm cúng và vui vẻ. Mấy o tha hồ tâm sự loài chim biển còn đàn ông tụi tôi thì rượu vào lời ra. Anh Thi phu quân của Kim Thanh vui và tếu hết chổ chê. Anh Thi cụng ly rồi nói: ”Anh làm sao tôi làm vậy anh làm bậy tôi cũng làm theo” Sau đó có màn Karaoke do các O trình diễn. Chị Hoa hát những bài dân ca Quảng Trị nghe thật cảm động. Cứ như thế ba bạn Cúc, Lài, Thuỷ được dân địa phương San Jose mời đến nhà dự tiệc lia chia. 

https://c1.staticflickr.com/5/4581/37787418274_d0fb934589_b.jpg

Đêm sau tại nhà anh Nguyễn Ngọc Hùng hiện là hội trưởng Liên Trường Trung học Quảng Trị thuộc địa phận Bắc Cali. Anh chị Hùng Thìn cũng rất chu đáo trong việc tiếp đải nồng hậu quí khách, đa số là cựu học sinh các trường Trung học Quảng Trị. Sống xa quê hương tình cảm con người thật gắn bó và thương yêu nhau, chúng tôi như những con chim lạc đàn tìm về với nhau sau cơn bão tố, trên những khuôn mặt ai ai cũng thể hiện vẽ hân hoan trìu mến với tình đồng hương Quảng trị


https://c1.staticflickr.com/5/4550/38470807502_58c5849936_b.jpg

 Nhóm Tam C chúng tôi gặp riêng nhau chụp hình chung và tâm sự vài điều. Lài và Thuỷ A luôn tươi cười, có lẽ hai nàng qúa hạnh phúc trong cuộc sống nên vui vẻ và yêu đời hơn. Trong bàn tiệc tôi nhận ra Lài được nhìều người lớn tuổi hơn gọi bằng cô và dì chứng tỏ Lài tuy nhỏ nhưng có võ. Có vài eng trầm trồ khen Lài “ Nhìn o Lài cứ trẻ và đẹp hoài”. Còn Cúc ít nói và trầm lặng hơn, tôi biết Cúc từ những ngày còn sống ở Việt Nam trước khi đến Mỹ, cô nàng có cuộc sống hơi vất vả, hoàn cảnh gia đình khó khăn ( xin lỗi Cúc). Qua Mỹ muộn màng nhưng Cúc phải một mình lo toan cuộc sống cho những đứa con ở Mỹ và ở Việt Nam. Nhưng phải công nhận Cúc luôn giữ nét đẹp kiêu sa và giọng nói dịu dàng. Lúc còn đi học Nguyễn Hoàng nhà Cúc ở thôn Trí Bưu còn tôi tạm cư ở Làng Hạnh Hoa, hai đứa đi về cùng đường Lê Văn Duyệt hướng về gốc Bầu. “Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp. Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương thơm...” Cuộc vui nào rồi cũng tàn, chúng tôi lưu luyến chia tay nhau. Ba ngày hội ngộ quá ngắn ngủi không đủ để chúng tôi chia sẻ với nhau những tình cảm bạn bè. Trên đường bay về New Yersey Lài còn nhắn tin trên messenger: “Quá nhiều ân tình, không biết răng mà trả cho hết chỉ đành ghi nhớ mãi. Tạ ơn trời và cám ơn các bạn” Sáng dậy mơ màng tưởng còn ở Cali. Bên các bạn mình như quên hết tuổi về chiều. Vui lắm, nhớ lắm!!!”. Và Cúc cũng cảm xúc nhắn lại ”Cuộc vui qua mau qúa, chúc mọi người sức khỏe và an lành, Lài và anh Sinh về bên nớ mong hết dị ứng” ( Anh Sinh ông xã của Lài hay bị dị ứng với thời tiết Cali nên Cúc chúc như vậy).


https://c1.staticflickr.com/5/4534/37787418134_173d2c8f0b_b.jpg


Tam cô nương về rồi còn mình tôi ở lại San Jose. Nghiệm cho cùng cái gì cũng có định luật của tạo hóa. Trăng tròn rồi lại khuyết, bèo hợp rồi sẽ tan, hoa nở rồi cũng tàn. Cuộc hội ngộ vừa qua đã lưu lại trong tôi những ấn tưọng đẹp về tình bạn tình người dù chúng ta đã gần đến tuổi về chiều. Tình cảm tôi không ướt át như Lài, Cúc , Thủy tuy thế tôi cũng liên tưởng về những kỷ niệm ngày xưa của thời học sinh Nguyễn Hoàng nói chung lớp Tam C nói riêng. Từ ngày chia tay bạn bè thầy cô đến bây giờ cũng gần 50 năm. Xin một lời cầu nguyện cho tất cả được bình an và hạnh phúc. Tôi cũng mong ước một cuộc hội ngộ trên quê hương Quảng Trị dưới mái trường Nguyễn Hoàng có đông đủ các bạn bè và Thầy Cô để ôn lại một quảng đời học sinh với muôn vàn kỷ niệm. Và tôi hi vọng được gặp lại người con gái ngày xưa quen nhau dưới sân trường bây giờ đang sống ở Quảng Trị, dù em và tôi đang cách xa một đại dương nhưng tôi vẫn nhớ… Xin mượn bài thơ Đôi Bờ của Quang Dũng để nhắn gởi về em:

…………………………………………..

“Thoáng hiện em về trong đáy cốc

Nói cười như chuyện một đêm mơ

Xa quá rồi em người mỗi ngã

Bên này đất nước nhớ thương nhau

Em đi áo mỏng buông hờn tũi

Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?”

Thơ Quang Dũng

Ngồi một mình với ly cà phê để viết lại bút ký này lòng tôi không khỏi bùi ngùi nhớ về quê hương thân yêu bên kia bờ đại dương.Hằng năm bão lụt kéo về và gây đau thương cho dân miền Trung mất mát nhà cữa, đồng ruộng tan hoang và nhất là những gia đình mất đi những người thân sau cơn bão lụt. Một nén hương lòng cho những nạn nhân xấu số. Trước mùa Lễ Tạ Ơn Tôi thầm cầu nguyện Thượng đế ban phước lành cho dân miền Trung từ nay không còn đau thương vì thiên tai và tất cả mọi người sống trong hạnh phúc an lành.

 

San Jose mùa Lễ Tạ Ơn 2017

Lê Văn Tiến


Người theo dõi