Hiển thị các bài đăng có nhãn Đinh Trọng Phúc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đinh Trọng Phúc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

ĐINH TRỌNG PHÚC - CÁNH THIỆP ĐẦU XUÂN




Người miền Trung nhất là tại Quảng trị tôi nhớ tết đến xuân về dù cực khổ chi nhà nào cũng kiếm cho ra cành mai chưng giữa nhà trong ba ngày tết.

Cứ đến tháng chạp hàng năm ai cũng tất bật chạy 'nước rút' kiếm thêm lợi tức mà lo sắm sanh cho ngày tết. gạo nếp bánh mứt thịt thà là chuyện của những bà nội trợ. Còn chuyện kiếm cành mai thật đẹp là chuyện của quý gia trưởng -tức là quý ông.
Thường thường dân thành phố thì hay mua mai, những cành mai từ Tích tường Như lệ người ta đem bán. Có người đi ra tận Gio linh hay vào Hải lăng mua mai. Cũng có người lại có trồng đươc cây mai thật lớn giữa sân nhà cắt vào một cành thật đẹp chưng tết, có khi hảo tâm biếu bạn ít cành.

Cành mai kiếm ở xa về thường thường cách tết cũng cả tháng. Cành mai đem về thường sắp sửa ra búp bông, được hui gốc thật kỷ, tỉa hết lá vỏ cắm vào cái bình nào đẹp nhất ưa ý nhất của chủ nhà.

Chuyện mai nở đúng hạn đúng kỳ cũng là điều sung sướng nhất của chủ nhà. Còn thêm cái chuyện mai nở bao nhiêu cánh lại là một niềm mong đợi dù nỗi sung sướng này thật đơn sơ bình dị cho cái chân chất của con người Quảng trị. Mai vàng 5 cánh mới sang còn các loại mai núi đều nhiều hơn 5 cánh. Tri âm tri kỷ trò chuyện bên nhau bên chén trà cùng lối xóm hàn huyên mỗi sáng. Bạn bè nhìn cành mai như có tâm hồn nó đang hòa vào nỗi ngóng đợi của chủ nhân. Ai ai lòng cùng mong mai sẽ nở đúng ngày. Có chi sung sướng và thỏa mãn cho bằng khoảng 25 tháng chạp những búp mai bắt đầu thi đua hé nở, những cánh vàng tự trong búp hoa xanh lục như bứt tung ra lộ dần những cánh sắc vàng tươi cùng đón ánh xuân về.

Rồi 27,28,29 tháng chạp và vào dịp giao thừa là những cánh vàng hoa mai đã nở rộn ràng trên những cái cành xương xẩu khẳng khiu , điểm xuyết vài ba chiếc lá xanh nõn mượt mà. Chủ nhà sung sướng, người Quảng trị quê tôi dễ dàng sung sướng dù chỉ cành mai nở đúng kỳ làm vừa lòng chủ, năm này chắc hẳn "ĂN NÊN LÀM RA"!


2 CÁNH THIỆP ĐẦU XUÂN (giá bình dân )THẬP NIÊN 1970kỷ niệm Quảng Trị gia đình tôi còn giữ

Đó là chuyện Mai và bông còn những cành thiệp đầu xuân có trễ chi cho đến trước giao thừa là chủ nhà đã trịnh trọng gắn những lá thiệp chúc xuân từ bạn hữu người quen, mối lái làm ăn vào giữa những cành mai đó.

Người có tiền thì họ mua thiệp loại sang có hình ông PHước Lôc Thọ, hay hình ảnh mai vàng chim muông, cây cảnh v.v..tất cả đều thiếp vàng óng ánh. Kẻ bình dân như học sinh bạn hữu thường tình thì mua vài ba lá thiêp bình dân nho nhỏ bên trong có đề vài dòng thân chúc. Dù sao chăng nữa những hình ảnh và phong tục đó cũng là những nét sống đáng nhớ và đầy ý nghĩa từ tình làng nghĩa xóm hay tình cố cựu thông gia cùng tình thầy trò hay bằng hữu đồng môn.


dòng chữ bên trong cánh thiệp 1972


Tết đến xuân về ngoài chợ thì xôn xao bánh mứt còn các quán sách chợ tỉnh thì tha hồ các loại thiệp để cho thiên hạ lựa chọn. Mà cái chuyện mua thiệp tặng nhau hồi này là thông lệ và chuyện thường tình. Có người phải mua sớm để gởi bưu điện cho nhũng nơi ở xa vì sợ gởi cận tết thiêp đến trễ là điều "vô duyên nhất".

Rồi hình ảnh cành mai ngày Tết cùng cánh thiệp đầu xuân là hai thứ không thể tách rời nhau trong ngày đầu năm.
Ngày đầu năm người khách đến thăm nhà, câu đầu tiên người chủ nhà ưa ý nhất là " chà nhà eng năm ni bông mai nở đẹp dữ hí!"
Miếng mứt gừng, tách trà thơm đầu năm thăm nhau ông khách chủ nhà cứ thế mà hàn huyên tâm sự bên cành mai đang rộ sắc vàng .

CUNG CHÚC TÂN XUÂN TÂN MÃO 2011
ĐINH TRỌNG PHÚC

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2010

ĐINH HOA LƯ - ĐÒ LÊN BA LÒNG


HỒI ỨC


Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
Kìa đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên
Theo gió tiếng đàn xao xuyến

(Thiên Thai -Văn Cao)


Tôi cứ lần lữa hẹn mãi trong lòng rằng phải viết lại những hình ảnh cùng ký ức của tôi một thời nhỏ dại. Một thời tôi là thằng bé cứ lon ton theo chân ba tôi ngay khi người phục vụ tại Ba Lòng nơi thâm sơn cùng cốc.


Tôi nhớ rất in nhờ vào năm em gái thứ hai tôi sinh ra đời, dỉ nhiên mạ tôi bận bịu với em tôi và đây là cái cớ cho ba tôi được quyền dắt tôi đi xa, thật xa ra khỏi cái thành phố thân yêu nhỏ bé Quảng Trị

Tuổi bé thơ còn mãi dấu ấn trong đời, làm sao tôi quên được những quán sách thân quen hai bên con phố chính Trần hưng Đạo: Lương Giang, Sáng Tạo; đi về ngã tư có quán Tùng Sơn, rẽ vào phía chợ có quán sách Văn Hóa. Xuôi về dưới này là Tao Đàn quán sách thân thiện nhất với tôi vì thuận đường về nhà .

Hồi này tôi quen dùng chữ ‘quán’ thay thế ‘hiệu sách’ , ‘tiệm sách’; nguyên cớ là nhớ sao viết vậy cho đúng vào hoàn cảnh lúc này thôi người QT hồi này hay nói quán sách chứ không nói tiệm sách, ngoại trừ tiệm ăn Nhuận Ký, tiệm may Thiện Thành v v giống như trong khai sinh của tôi có khi lại dùng thôn thay phường chẳng hạn.

Thuở này tôi là khách hàng thân quen nhất hay lui tới mê mẫn với mấy cuốn truyện tranh mỏng giá một đồng hay hai đồng hồi đó. Mỗi lần mua được cuốn truyện tranh về nhà là tôi ngấu nghiến đọc. Tôi thả hồn theo trí tưởng tượng của mình nghĩ về những 'tiên ông, tiên bà' thường sống trong những vùng núi non hùng vĩ, mây nước chập chùng, những thác động âm u huyền bí sắc màu huyền ảo .

Ngày ngày cắp vở đến Trường Nam Tiểu học hay cả khi còn lớp vỡ lòng với Thầy BỒi vì hương sư khả kính, mái trường tư đầu đời của tôi người dạy trong nhà gần chùa Tỉnh Hội. Tôi hay ngó lên dãy Trường sơn xanh thẩm xa xa. Trong trí óc ngây ngô tôi mường tượng trong dãy núi chập chùng hướng Tây Bắc đó là thế giới khác , thế giới của thần tiên của huyền thoại thôi; và tôi cứ thắc mắc cái gì "trên nớ hỉ ?"

Thế mà tôi lại có dịp đi với ba tôi lên trên nớ! cái dịp ngàn năm, và như là huyền thoại ...

Trời còn tối nhưng ba tôi và tôi cùng hai chú làm việc với ba tôi đã tới bến đò cuối con đường Gia Long bên chợ Tỉnh. Giã từ ngọn đèn đường vàng vọt gần cuối đường Quang trung, người cảnh sát tan ca gác cuối cùng gần chợ chào hỏi nhóm người của ba tôi vài ba câu chuyện gì đó.Trong ánh sao khuya bác lái đò hình như đã hẹn sẵn lúc nào, ai nấy cũng sẵn sàng cho cuộc hành trình hẹn trước. Chuyến đò này dành riêng cho chi của ba tôi trực chỉ lên hướng ngược dòng sông thạch hãn. Mái chèo khua nước trong đêm khuya, (hồi này người ta chỉ biết chèo chứ chưa có máy như sau này). Tôi ngồi thu mình trong khoang đò bên ngọn đèn lù mù nghe tiếng nước róc rách bên ngoài tưởng tựong con thuyền nhè nhẹ lướt đi trong màn đêm dần dà về sáng.


Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền
Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền
Âm ba thoáng rung cánh đào rơi


(Thiên Thai - Văn Cao)


Ngủ thiếp đi khi nào không hay, chợt tỉnh giấc thì con đò đã chèo qua Cầu Ga không biết khi nào. tôi nghe tiếng ông lái đò loáng thoáng rằng đò mới qua An Đôn Như Lệ thôi. Nhìn lên trên bờ sông còn có chiếc xe GMC nhà binh nào đó chạy vụt qua. Qua khúc quanh của Trấm những địa danh các chú râm ran nói chuyện trên đò tôi mới biết. Và con sông chừng như hẹp lại. Nước cạn dần, mùa khô có đoạn đò chạm đáy không chèo được thế là tất cả mọi người hè nhau xuống đẩy.


Tôi thì được ưu tiên ngồi lại trong đò; tiếng hò lơi của ba tôi và mấy chú thi nhau rầm rập cố đẩy con thuyền qua đoạn cát bồi . Tôi vói tay ra khe hở bên mái vòm con đò, khuấy vào làn nước trong leo lẻo đang đi ngược về phía sau . Nước trong lộ rõ cả làn cát trắng dưới đáy sông .


BÃI CÁT VÀNG

Trời gần trưa con đò được nghỉ gần một khúc quanh sông. Bãi cát vàng bồi lên cạnh khúc lượn của con sông không biết lúc nào . Tôi được rời đò lên chơi trên bãi cát tinh khiết và quý báu này. Trong kia là khu rừng yên lặng, một không gian huyền bí đối với tôi từ lúc sinh ra đến giờ mới thấy. Rừng trong đó thâm u ,ngoại trừ đôi ba tiếng con gì đó kêu rời rạc. Tôi chạy theo con lạch nhỏ xíu chảy ra sông từ trong khu rừng bí ẩn kia. Con lạch nước trong ngần lượn lờ uốn khúc giữa bãi cát vàng, làn nước óng ánh phản chiếu ánh nắng mặt trời. Tôi tha hồ chạy theo con suối nhỏ này cho đến khi nó nhập vào giòng sông mẹ .

Một cảm giác vừa lo sợ vừa phiêu lưu mạo hiểm trong tôi; giữa bãi cát vàng lại ngó vô khu rừng tiếp giáp với núi cao. Không biết trong đó có gì ? Có những hang động thâm u và những ông tiên ông bụt không? Có tiếng kêu tôi về đò, tôi sẽ còn đi nữa ,theo đò ngược giòng Thạch Hãn vào tận những gì bí mật của núi rừng phía trên kia đầu nguồn con sông chảy về hạ lưu dưới kia là Quảng trị thành phố thân yêu của thằng bé như tôi .


BỮA CHÁO CÁ TRÔI

Càng ngược giòng, sông càng hẹp, có lúc rừng càng sát lại với con đò. Vách núi hai bên lại càng cao lên tôi phải ngẩng đầu lên để nhìn . Có mấy con rạch chảy ra nước cuộn sóng. Con đò có lúc đi giữa hẽm núi, vài gốc cây vươn mình ra sông . Chợt đò dừng lại gần một vũng sâu nhất. Tôi nghe tiếng ba tôi và mấy chú đi theo lao xao trước mũi đò một lúc sau một cột nước vọt lên cao từ cái vũng sâu kèm theo tiếng "ùm" rúng động khoảnh núi yên tĩnh. Thì ra mấy người đang đánh cá ở đây.

Hai con cá hình dạng con cá gáy rất lớn màu trắng bạc óng ánh ,có vãy lơn vi vàng hươm, được hai chú lặn đem lên trên khoang đò. Suốt đời tôi chưa bao giờ thấy loại cá đầu nguồn sông lớn đến như vậy ! Tôi còn nhớ ba tôi gọi nó là cá TRÔI; mỗi con phải nặng gần 10 ký. Cái tên cá TRÔI làm tôi thắc mãi sau này, có lẽ là cá gáy nhưng vì hồi đó chữ cá gáy có dính líu đến những điển tích thiêng liêng mà người ta kiêng gọi chăng?


Hai con cá khổng lồ được ông lái đò phụ làm, những chiếc vảy tròn, trắng óng ánh bị cạo tơi ra. Mọi người sửa soạn bữa cháo cá nấu ngay trên đò. Chú Đệ nhảy lên bậc đá cạnh con đò đang neo lại, chú lẫn vào trong những tàng cây bên vách núi. Một giờ sau khi bữa cháo cá trên đò đã nấu xong Chú Đệ, trở về đò một tay cầm cây súng phòng thân một bên xách buồng cau xanh ngắt. Tôi cứ thắc mắc mãi trong lòng: làm sao trong rừng xanh lại có cau được ? hay là cau rừng? Cau chỉ có dưới đồng bằng trong mấy xóm Thạch Hãn hay Trí Bưu, Hạnh Hoa, ngả ba về Quy thiện như tôi hay thấy thôi. Sau này tôi mới biết sau rặng núi kia là những bản làng dân tộc họ có trồng cau như mình. Cả đò ăn bữa cháo cá trôi tươi rói lấy sức tiếp tục hành trình vì cũng gần đến Ba Lòng rồi, tôi nghe phảng phất ông lái đò bảo vậy .

BẾN ĐÁ NỔI

Trời đã về chiều, núi rừng chuyển qua màu đen nhạt. Con đò vẫn nhịp nhàng khua mái ngược giòng. Mùa khô nước không chảy mạnh nên đò tôi đi nhẹ nhàng hơn. Lúc này tôi mới hiểu tại sao ba tôi lại chọn mùa khô để lên lại vùng này. Vài cây khô còn vướng lại bên bờ sau mùa lũ trước như không muốn rời xa quê hương hùng vĩ của chúng. Con đò có lúc lại sát rừng đến nỗi tôi còn thấy vài loại cây phong lan lơ lững trên mấy nhánh cây cao. Có tiếng chim kêu lanh lãnh lạ tai tôi chưa hề nghe, âm vang dội vào vách núi phụ họa thêm cho bản nhạc rừng về chiều.Vài con bìm bịp thoáng bay qua mấy bụi lách đầu nguồn của mấy nhánh khe đang tuôn vào giòng sông nhỏ hẹp nước đập vào vài mõm đá trắng xóa.

Đến rồi !

Ai nấy đều reo lên. Đò đến nơi, Bến Đá Nổi thì đã xế chiều . Nơi con đò cặp vào , một bãi đá thiên nhiên lớp lớp muôn triệu viên đá tròn nhẵn thín, có viên to gần đầu người . Một sự mài dũa thiên tạo tạo nơi này có tên Đá Nổi, món quà quý giá trời cho tặng cho đầu nguồn giòng sông Thạch Hãn. Tôi xuống thuyền vừa theo ba tôi và mấy chú , chần bước rào rạo trên thảm đá lạ lùng mà tôi mục kích đầu tiên trong đời. Giờ địa danh này không biết còn tên không và muôn triệu viên đá tròn trịa bóng nhẵn năm xưa đó không biết còn không?


BA LÒNG - THUNG LŨNG THẦN TIÊN

Tôi vào làng, nói đúng hơn là vào thung lũng Ba Lòng thì trời đã nhá nhem tối . Cho đến sáng hôm sau thức dậy mới nhận chân ra đây là khoảng trời mở rộng cho đầu nguồn sông Thạch .

Một thế giới thần tiên như trong ảo mộng nhưng lại hiện thực cho tôi ngày xưa ấy.
Những liếp nhà tranh ẩn hiện trong làn sương mờ buổi sáng; nơi đây là cả một thế giới khác một vùng cư dân lên đây lập nghiệp hồi nào mà tôi không thể ngờ ra . Tôi đã có dịp rong chơi và ngắm một thung lũng rộng mênh mông, một vùng đất hứa trù phú cho mấy rẫy bắp xanh tươi rung rinh bông bắp , theo làn gió lan truyền mãi tận xa tít hết cả tầm mắt của tôi .

Tôi làm sao quên được mấy nồi bắp tươi nấu xong thơm phức, mùi bắp nếp lan tỏa khắp nơi trong mùa thu hoạch . Những nồi thịt heo rừng chú Đề, tay thiện xạ chú nấu với lá lốt rừng. Những con gà rừng cũng không thoát khỏi bàn tay thiện nghệ của chú ấy .

Ngày tháng vui chơi trên vùng đất mới có khi tôi tưởng mình đang ở "xứ thần tiên" như trong mấy cuốn truyện tranh của tôi đang cất dưới nhà thật. Núi rừng trùng điệp bao quanh một vùng đất đìu hiu và xóm làng đìu hiu mịt mờ trong khói núi sương chiều. Một thời gian tôi bỗng nhớ nhà. Chiều về núi rừng bao quanh , dưới kia thành phố thân yêu Quảng Trị và nhà tôi không biết hướng nào ?

Tuổi nhỏ nhớ nhà tôi lại có một thứ cảm giác bâng khuâng lưu luyến như Từ Thức nhớ trần gian trong truyện tôi đọc vậy. Rồi trước sau gì tôi cũng phải theo con đò xuôi giòng sông Thạch về lại "cõi trần " dưới kia là thành phố nhỏ bé Quảng Trị năm nào .


Đinh Hoa Lư, chớm Đông 2010







BÀI ĐÃ ĐĂNG
KÝ ỨC MÙA LŨ

Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010

ĐINH TRỌNG PHÚC – KÝ ỨC MÙA LŨ



“Ông tha mà bà chẳng tha

Làm nên cơn lụt hăm ba tháng mười”

(Ca dao)

Thời con nít, tôi vẫn khư khư một ý nghĩ rằng câu ca dao trên chỉ dành riêng về quê ngoại mà thôi . Sao mà không riêng cho được khi hàng năm cứ đúng gần cuối tháng mười âm lịch, bầu trời Quảng Trị chỉ một màn đen xám ngắt, tối ‘sầm sập’ của mưa, của gió, của cái thứ không khí ẩm ứơt nặng nề, tất cả gom lại làm dấu hiệu cho cơn lụt tháng mười đang đến .

Đêm đêm tôi nằm nghe tiếng sấm từ hướng biển, hướng thôn Gia Đẳng , Thôn Ba Lăng hay Long Quang vọng lên, tiếng sấm đó nghe “ùng ục, ùng ục”, thứ âm thanh thật lạ tai mà mệ ngoại tôi thường gọi là ‘sấm đất’ :

“Ôn Trời sắp mần lụt rồi đó,” ngoại tôi thường nói vậy .

Thế là đêm đêm tôi nằm ngủ nhưng tai lại cố lắng nghe tiếng sấm “đất’ đầy bí ẩn đó. Tiếng sấm như dưới lòng biển phát ra, dội lên chân trời hướng đông. Thỉnh thoảng tôi ghé mắt nhìn ra khe hở của khung cửa sổ, những tia chớp chốc chốc lại lóe lên chân trời đen thẩm. Lại cũng tiếng ‘ùng ục , ùng ục’ từng hồi, trời trở mình như muốn báo rằng: mùa lụt đang về:

“Đêm đêm chớp bể mưa nguồn

Hỏi ngưới quân tử có buồn chăng ai ?”

(Ca dao)

“ Chớp bể mưa nguồn …” ư ? Câu ca dao này xét cho cùng, đó là kinh nghiệm lâu đời của người miền Trung, ở đây lại càng trùng hợp với quê ngoại tôi một lấn nữa. Ban ngày hướng mắt lên Trường Sơn, tôi chẳng còn thấy màu xanh bất tận của núi rừng như trong mùa hạ nữa. Hướng đó lúc này chỉ là một màn trời đen nghịt: MƯA NGUỒN, mưa đang che núi, phủ rừng ngày này qua ngày khác, liên tu bất tận suốt một tuần. Mưa, mưa lớn lắm, những màn mưa khổng lồ trên đó che luôn cả ngọn núi cao; Động Ông Do, đỉnh Đầu Bò không còn thấy dạng. Tôi còn nghe tiếng sấm sét từ trên đó vọng về. Và rồi cái sự kiện ‘vĩ đại’ mà tuổi nhỏ của bọn tôi hằng mong đợi trước sau gì cũng đến, phá tan nét tĩnh lặng, trầm buốn cái xóm tên là Cửa Hậu thân yêu muôn thuở :

- “Lụt, lụt, bây ơi, đi coi lụt.”

Tiếng mấy thằng bạn tôi í-ới kêu nhau ngoài ngõ.

Có gì thích thú cho bằng mỗi năm lũ bạn chúng tôi được dịp cùng nhau chạy về hướng bờ sông coi lụt, để được lội nước, được thỏa thích chứng kiến những gì dữ tợn nhất của ‘ôn Trời’ .

Con đường Lê Văn Duyệt chẳng bao xa là đến giáp với đường bờ sông ngang cống Quân Cụ thông ra sông . Người ta đi coi lụt khá đông, giữa đường họ râm ran hỏi nhau :

- “Lụt năm ni to hơn năm ngoái khôn hè ?”

-“To hơn chơ nị! ”

Riêng bọn tôi cứ cắm đầu, cắm cổ cố chạy cho nhanh, cho mau đến bờ sông.

Ôi chao ! Mới mấy tuần núp trong nhà tránh mưa, trốn gió, giờ ra đây mới thấy giòng sông hiền lành đó đã biến đổi không biết khi mô .

Con sông nhỏ bé giờ chỉ là một biển nước đỏ ngầu, nước mô trên rừng trên núi, nước Trường sơn trùng trùng điệp điệp đổ về dưới “ni răng mà dữ tợn ?” Nước mênh mang, nước vây khắp chốn, giòng chảy xiết không bến chẳng bờ. Chênh chêch bên kia Bãi cát Nhan biều mất tăm, không còn dấu vết, chỉ còn mấy rặng tre còn ngoi ngóp như cố vươn lên làn nước trên rừng đang hùng hổ tràn về mà thôi. Giòng nước đục ngầu, càng lúc càng chảy băng băng, nó cứ cắm đầu cắm cổ trôi nhanh về biển. Giữa giòng vô số xoáy nước, to có, nhỏ có cứ quay cuồng xoắn tít. Rồi còn thêm vô số thân lau xác lách cứ thế mặc sức theo giòng nước. Chúng như xô đẩy nhau, thi đua trôi thật mau về thăm biển cả Thái Bình. Thỉnh thoảng theo làn nước dữ kia, nhấp nhô mấy cấy gỗ mục trên rừng trôi về. Nhà ai đó thật gan, nghe đâu vớt được cả đống củi trời cho này . Thuở này thiên hạ còn nấu ăn bằng củi, nên gỗ rừng khi trôi về xuôi tấp một mớ vào bờ khiến họ mừng rơn .

Tôi hướng lên Cầu Ga, vẫn còn hình dáng đen xì của chiếc cầu quen thuộc đó. Nó vẫn an toàn, đứng vững , nối nhịp thương yêu hai bờ nam bắc.

-“ Năm ni, chắc nước khôn vô chùa mô hỉ ?"

Một ông già vừa đứng cất rớ kiếm mớ cá nước lụt vừa lo ngại nói với bọn tôi như thế .

Ngoảnh nhìn hướng cống chùa Tỉnh Hội nước còn một chút nữa là đến cổng Tam quan, bãi cát trước chùa thì hoàn toàn mất hẳn, nước đang mấp mé bờ đường .

Phía đập Rì Rì thì không còn nữa, giòng lụt đã cắt ngang. Hướng phía Sãi chỉ còn nhìn thấy hình bóng lũy tre mờ mờ, cong cong - biết tin gì không dưới nớ? Nước lụt ngăn cách đôi bờ. Chẳng ai dám liều mạng băng mình qua giòng nước đang xé đập RÌ RÌ tràn vào nhánh sông Vĩnh Định. Không ai qua được đoạn đập non nửa cây số bị nước cắt ngang. Tầm mắt tôi gắng nhìn bờ tre phía Sãi như đang rướn mình chịu đựng, oằn oại, cố hết sức ngăn cản giòng nước dữ đang muốn xô đẩy hất tung tất cả để xoáy vô làng .

Tuy người ta biết lụt sẽ hết, nước sẽ rút dần thôi, thế mà khoảng thời gian bị cách chia không về được làng , không lên được Tỉnh, họ xem chừng lâu quá, như cả cuộc đời. Hai bờ lóng nhóng những người thân đang nhấp nhỏm chờ cơn nước rút, họ tưởng chừng như vĩnh viễn xa nhau thật sự đến nơi.

Giờ thì tôi thích thú nhìn mấy con cá trắng nhảy đang nhảy long chong trong cái rớ mà ông già vừa cất lên. Ông già rung rung cho mấy cọng rều rớt lại xuống nước, đùn mấy mấy chú cá trắng xuống tận đáy lưới, phần nhiều là diếc. Ông già vội hắt hết vào cái vợt nhỏ, xong ông bỏ cá vô cái oi đeo bên thắt lưng. Nhìn mấy con cá trắng làm tôi nhớ đến tô cháo cá diếc với bụng trứng béo ngậy vàng hươm mà mạ tôi thường hay nấu vào mùa này.

Xem chừng nước càng lúc càng dâng cao. Tôi lại nghe phía sau, mấy con đường nhỏ trong xóm Heo (cái tên xóm Heo, oái ăm thay lại gần xóm Chùa Tỉnh Hội, khi nghe tiềng chuông công phu buổi sáng thế là dân trong xóm thức giấc, nhưng lại thúc giùm ông thợ mổ heo luôn thể ; thật là chuyện khó lòng cho các thầy lúc này không sao giải trừ được nghiệp SÁT SINH ) người ta bắt đầu lội nước , xóm thấp hơn mặt đường xe chạy nên nước trong xóm có nơi sâu ngang ngực . Xế trưa nước bắt đầu mấp mé tràn lên đường. Ngang Cống Quân Cụ trước mặt Ty Thú Y giờ này nước đã tràn qua thật rồi. Vài con cá, tôi không biết cá gì, lại “bon chen” trườn mình theo làn nưóc lấp xấp trên mặt đường băng ra sông .

Thằng Mẹo, một đứa trong bọn tôi vắng đi một hồi không thấy hắn đâu, thì ra hắn đang hì hục kéo một nhánh phượng gãy thật to đem về nhà làm củi. Cái thằng !

“ Ngó rứa mà thương nhà hắn dữ thiệt a , thật là thằng con có hiếu , đi chơi lụt hắn cũng không quên chuyện kiếm củi về cho mạ hắn,” tôi nghĩ thầm trong bụng.

Giữa giòng nước đang chảy băng băng đó tôi lại thấy nhấp nhô một thân cây rừng thật lớn. Ai cũng xuýt xoa chỉ trỏ, tiếc cho một cây củi khống lồ, ước chi nó tấp được vào bờ. Riêng tôi thì chẳng màng chi thứ viêc người lớn; con nít như tôi chỉ một cái thích: lội qua - lội lại trên làn nước đang băng qua hai cái cống:Trại quân cụ, và Ty thú y mà thôi. Nước tràn qua mặt cống khá mạnh, vừa lội tôi vừa hồi hộp, tim đánh liên hồi sợ nước cuốn tôi xuống sông trôi về biển mất thôi.

Cũng còn may, khi lụt về đến đồng bằng thì trời lại ngưng mưa. Nhưng chính thời điểm này lại là lúc bao nhiêu nước trên nguồn dồn hết về đây. Nước đang tràn vào sông đào Vĩnh Định, nước sẽ ngập đồng ruộng An Tiêm , Hạnh Hoa và luôn cả cánh đồng sau xóm Cửa Hậu bọn tôi nữa đó.

Đây cũng là dịp trong xóm tôi nghe chừng rộn ràng, bát nháo hẳn lên vì cái chuyện đi nơm cá ngòai đồng. Hàng năm vào lúc lụt như thế này, rất nhiều cá gáy theo cơn nước lụt lên đồng tìm chổ đẻ trứng. Thỉnh thoảng chúng nó như ‘tức trứng’ thi nhau quẫy trên mặt nước. Đứng xa người ta còn thấy cá quẫy, dân trong xóm đua nhau cầm nơm bươn bả nhào tới, tiếng la tiếng hét loạn xà ngầu. Trên cánh đồng giờ này người nơm cá rất đông, nước ngập quá bụng mà chẳng ai lo chi chuyện ướt và lạnh. Có ai đó chém được một con gáy thật to. Có người khi nơm được một con quá to, mừng quá la toáng lên kêu bà con tới phụ bắt .



Thằng Mẹo xóm tôi, cái thằng coi bộ việc chi cũng rành. Hắn không biết kết xong từ lúc nào cái bè chuối thật to. Hắn vừa chống bè vừa khoái chí kêu tôi cùng lên bè đi chơi với hắn. Tôi là thằng “nhát gan thỏ dế” làm gì dám nghĩ tới chuyện lên bè với hắn .

Nghĩ cũng tội nghiệp cho cái xóm mới mọc lên sau này, nhà họ sát cánh đồng, bìa ngoài xóm Hậu của tôi. Họ đang bị cái họa “ách nước tai trời” đày đọa, phải đi tránh lụt, phải đi xin “ăn nhờ ở đậu” ít ngày tận xóm ngoài tức mấy chục nóc nhà “cố cựu” cạnh con đường nhựa tức là con đường Lê Văn Duyệt trước Cửa Lao Xá. Xóm ngoài này may mắn không bị nước lụt “xâm lăng”. Dĩ nhiên không ai nỡ lòng từ chối, xóm giềng mà !

Ai chà ! cái thích của bọn tôi xem ra cũng ‘ác’ vì bọn tôi sao lại mong cái cảnh lụt lội như thế này mãi để chạy đi xem, đi chơi, đi lôi lụt; trong lúc bà con mình sau xóm lại đang vất vả ngược xuôi khổ sở trăm bề ! Nhưng xét cho cùng thì chính Ôn Trời gây họa chứ ai vô đây nữa ! Lũ con nít bọn tôi chỉ là vui ‘ké’ mà thôi !

Cái nhà thằng Bốn (NguyễnVăn Bốn), cùng lứa với tôi. Ba hắn có xe đò QuảngTrị- Huế. Năm vừa rồi chú Ba, ba hắn (nhưng hắn vũng kêu chú vì kiêng tên) mới xây xong cái nhà ngói thiệt to sau xóm vì ba hắn bán nhà cũ ngoài đường mua đất sau đồng này có vườn tược rộng rãi vui thú tuổi già. Nền nhà thằng bạn ‘nối khố’ này xây lắm công phu và tốn kém rất ‘hung’. Cát đổ nền, ba hắn (tức là chú hắn) thuê xe lấy tận bờ sông chở về, mất cả tháng trời mới xong . Nội cái nền không thôi đã cao hơn một mét thế thì làm chi có chuyện nước lụt làm ướt đồ đạc trong nhà hắn được. Xóm Hậu “Mới” này chỉ có nhà thằng Bốn không lo cơn lụt mà thôi, chiếc xe hàng (xe khách) ba hắn (tôi lại quên nữa! của chú hắn) thì tạm thời ‘lánh nạn’ ngoài đường ‘quan’ tức là con đường nhựa Lê Văn Duyệt đó. Còn lại đa số bà con ngoài này chỉ toàn là ‘tạm cư’ bởi thế mới long đong . Bà con dưới làng mấy năm nay chạy lên chạy về tránh bom tránh đạn, đi riết một hồi không biết làm chi ăn nên đành phải ở lại Tỉnh luôn. Số bà con này mang kiếp ‘tản cư ‘ nên nhà cửa đương nhiên tạm bợ, cái lợp tranh , cái lợp tôn , “lỏng chỏng, le te”. Vợ con gia đình nhiều phần ăn theo đồng lương lính tráng, kiếm được đồng nào xào đồng đó nên vách nhà của họ thì tôn có, ván ép Mỹ cũng có , tạm che gió lánh mưa mà thôi cần chi cho đẹp. Nhà cửa tạm dung thân, vì thế nên dựng vội xây vàng bên mé ruộng bờ ao nên nền nhà mới thấp lè tè, cơn lụt mới lên mà nước đã liếm tận vạt giường khiến bà con mất ăn bỏ ngủ .

Lội bì bõm dò theo con ĐƯỜNG NGỰ (đường ngày xưa vua trong Huế có ra thăm Thành Cổ vua không biết niên hiệu nào ngài có ngự ra thăm cánh đồng này. Đường đắp cao và to cho vua ngự nên gọi là Đường Vua Ngự hay là Đường Ngự). Tôi chỉ thấy cánh đồng thân yêu giờ đã loang loáng nước. Nước phủ tràn trề, từ con sông Vĩnh Định chặng thôn An Tiêm mênh mông lan đến xóm Tiêu xóm thằng Hiệp (Lê Văn Hiệp đang ở tại San Jose) vươn đến xóm Hậu của bọn tôi và lao qua đến tận thôn Hạnh Hoa “lãnh thổ” của thằng Hậu (Nguyễn Hậu đang ở tại Hayward CA). Đứng mé xóm sau tôi thấy giờ tất cả chỉ là một màn nước đục giống một cái đầm vĩ đại mà Ông Trời sau một đêm đã tạo một “cảnh biển dâu” như vậy đó .

Những làn sóng nhỏ lao xao, nước cũng đục ngầu. Theo làn gió nhẹ văng vẳng tiếng bà con đi nơm cá kêu nhau, loáng thoáng vài con chim nhạn bay lướt qua mặt nước.

Tôi nhìn ra thằng Mẹo, hắn như một “anh hùng trên biển cả ” đang chống chiếc bè chuối thật to, công trình “vĩ đại” của hắn. Chiếc bè rong chơi của thằng Mẹo đi men theo mấy vườn chuối sau xóm mà giờ đây mấy vạt chuối đó chỉ còn phần đọt ló lên trên mặt nước mà thôi.

“Cảnh biển dâu?” xem chừng đúng thật: mới ngày nào –mùa hạ - bọn tôi với những cánh diều no gió thi nhau đứa nào cao đứa nào thấp cũng ngay trên cánh đồng này.

Cũng những chiều mùa hạ có gió, lại có thêm sự xuất hiện của con diều cậu tôi. Đây là con diều lớn nhất xóm, nội hai cái cánh thôi cũng dài hơn một mét. Thật là thứ diều của người lớn vì rất khó làm. Nội chuyện cột dây “lèo” dưới ngực nó không thôi để cho con diều bay được cũng khó lắm rồi. Một thứ rất đặc biệt nữa -- nó mang tới 3 ống sáo trên lưng- thứ sáo này một tay ‘nghề’ tận Gio Linh làm ra. Con diều cứ mãi ăn gió bay thâu đêm cùng vơi tìếng sáo nghe “O.. O “ vui tai, bất tận. Sợi dây diều làm bằng loại dây gai loại to, mua trên Chợ Tỉnh mới có, dây cứ căng mãi trong đêm. Đây là thú chơi diều của người lớn, tụi nhỏ như bọn tôi không bao giờ làm được, hơn thế nữa sức yếu làm gì kéo nỗi.

Tiếp đến cái cảnh những thửa đất cày khô nứt nẻ, cảnh mấy bác nhà nông hai thôn Hạnh Hoa, Cổ Thành đập đất bằng cái chày vồ. Những tảng đất cày to lớn, được cày lật lên từ lâu, khô cứng dưới ánh nắng gay gắt mùa hạ. Những cái đập đều tay chắc nịch, đầy bụi mờ, rồi những giọt mồ hôi mệt nhọc, mấy bác kiên trì đập mãi cho xong thửa đất.

Đó là chuyện mùa hè, mùa nghỉ học, mùa thả diều, mùa đá rế, mùa của trò chơi ‘đá lon’ hay “ hô la manh” (haut –la main ?).

Thu đã qua, lũ bạn tôi đi học lại ít tháng thì trời chớm đông. Tháng mười, giờ trước mắt tôi đang là mùa lụt, mùa của “ông tha mà bà chẳng tha”. Tuổi nhỏ rong chơi, vô tư vui thú trong cái nhịp điệu nắng mưa của trời đất, của một miền Trung khô căn cát đá, nắng dãi mưa dầu. Bữa cơm mùa lụt, chợ đò ít đông nên món ăn chẳng có chi. Có khi bữa cơm chỉ là mớ cá “lòng tong” mạ tôi kho sỗi với ít ớt, ít gừng nhưng sao ngon miệng lạ lùng.

Thời gian qua nhanh, băng băng như giòng lụt năm xưa đó. Những thăng trầm thời cuộc kéo thêm những lở lói của núi rừng Trưòng sơn cùng những loang lổ của lịch sử và luôn cả tâm hồn nhân thế .

Trường Sơn loang lổ, bị ‘lóc da xẻo thịt’ từng ngày. Thiên hạ còn đốt phá rừng xanh chạy theo miếng cơm manh áo. Bởi thế từ phương xa, mỗi khi tôi nghe tin lụt quê hương, ôi chỉ toàn là tin chết chóc thảm thương. Lụt mỗi năm mấy trận, lụt “răng lụt mãi rứa hè?”, trận này chưa dứt thì tiếp nối trận kia, lại còn hung hãn tàn ác khác xưa nhiều lắm. Những cơn lụt “Thế Kỷ-thuật ngữ sau 1975” thứ lụt mà cả đời ông già bà lão cũng chưa từng ‘chộ’, chết chóc, nhà trôi, người dân quê ngoại tôi hôm nay quá nhiều thống khổ, vừa qua chiến tranh bom đạn giờ thì lại vật vả, lo âu, hồi hộp theo từng trận mưa cơn gió và cứ thế hàng năm cái đói cái lạnh, thiếu ăn rách nát sao mãi đi cạnh cuộc đời ?

Tôi lại càng nhớ câu hát ngày xưa mà cậu tôi thường nghêu ngao:

“ …quê hương em nghèo lắm ai ơi

mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu ăn,”

(Phạm đình Chương)

Sông Hương hay Thạch Hãn cũng giống nhau, cũng nước trong leo lẻo, giòng chảy lững lờ và giống nhau hơn hết là cùng nghèo cùng khổ như nhau. Xa nhau chẳng mấy dặm đường, quê Nội tôi có giòng Hương giang thơ mộng và quê Ngoại tôi, nơi tôi sinh ra và lớn lên có giòng Thạch hãn hiền hòa theo năm tháng.

Tiên tri trong câu hát của cố nhạc sĩ Phạm đình Chương vần còn vận vào số mang người dân quê ngoại đến tận bây giờ không hề thay đổi. Quê ngoại vẫn còn, giòng Thạch Hãn vẫn còn , nhưng người dân quê ngoại càng khổ càng lo . Ốm o gầy mòn, thiếu ăn thiếu mặc sao mãi hoài đậm nét. Và càng đói càng thiếu, rừng Trường sơn càng bị đốt phá càng mang thương tật, sứt mẻ, tang hoang. Rồi hàng năm cơn giận dữ của thấn Thuỷ Tinh sẽ mãi gầm thét không thôi. Tháng mười “ông tha mà bà chẳng tha”, muôn triệu khối nước mà Ông Trời trừng phạt sẽ dằn lên những đôi vai còm cõi của dân nghèo, lên những tấm thân khẳng khiu, xác xơ của “mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu ăn” của người dân Quảng Trị .

Và nếu như thế, tôi biết rằng quê ngoại tôi vĩnh viễn không còn cái “thú vui thơ dại ” như xưa được nữa. Một thuở có những tháng mười “ông tha mà bà chẳng tha” bọn tôi tha hồ đi ‘chơi lụt’, đi lội lụt. Nhưng, những cơn lụt ‘dễ thương’ này chỉ có trong quá khứ, một quá khứ mà bọn tôi nhớ mãi suốt đời .

San Jose chớm thu 2008

Đinh Trọng Phúc

__________________

Người theo dõi