Thứ Bảy, 20 tháng 3, 2010
QUANG TUYẾT, Người anh xóm Ga
Tôi nghĩ về anh : không mang bóng dáng một doanh nhân thành đạt, với một chức vụ quyền oai, hay thương gia giàu có. Tôi nói về anh, không từ hình tượng một gã đàn ông phong lưu bay bướm của giới thượng lưu. Tôi muốn xây dựng trong suy nghĩ mình, và giới thiệu cùng tất cả mọi người : một anh “Húi Cua” chân chất, hiền lành hàng xóm ngày xưa của tôi, của một thời cùng trường, chung lối.
Nhà tôi cách nhà anh một con hẻm nhỏ và hàng rào dây kẽm chằng chịt, không phải là giậu mồng tơi của Nguyễn Bính nên chẳng có chú bướm trắng nào lang thang qua thăm. Sát bờ rào là cây sầu đâu cành thấp xịt, đến mùa ra hoa thơm ngát một vùng, màu trắng phơn phớt tím trông xa xa như hoa tuyết mùa đông rơi phủ thật thanh khiết (tưởng tượng của tôi lúc ấy đấy). Bông hoa sầu đâu ấy, tôi từng hái bó thành chùm bày hàng buôn bán sát bên tường nhà anh, trò chơi của lũ con gái trong xóm.
"Húi Cua" là con trai nên chẳng bao giờ tham gia trò chơi con gái, anh chỉ lượn qua quan sát tò mò, như một người lớn nhìn tụi con nít bày biện, thế thôi, mặc dù anh chỉ hơn tôi vài tuổi. Trước sân nhà anh có hai cây bông sứ trắng, những bông sứ rụng đầy sân được kết thành vương miện hóa trang cho bà hoàng, công chúa trong tuồng tích cải lương hay vòng hoa trên cổ những cô gái bên bờ Hạ Uy Di nắng gió. Sau nhà anh trồng vài bụi sắn với những chiếc lá cọng đỏ, xanh, xinh xinh. Chúng là vật liệu để tôi ngắt bẻ thành những tháp chuông nhà thờ. Cả bọn phá như thế đấy, nhưng "Húi Cua" không hề phàn nàn và mẹ anh ấy cũng chỉ cười hiền từ nhắc nhở.
Hàng rào vương đầy chứng tích với manh áo rách, hay lai quần vướng lại, có khi cả vài vết sướt trên da thịt của tôi. Một lần, vết sướt sâu chảy máu làm tôi khóc nức nở, mẹ anh nghe thấy kêu vào, thoa dầu, xát muối khử trùng ; bà rất hiền, chỉ dỗ dành khuyên nhủ : "con gái đừng leo trèo như rứa, thầy (ba tôi) mà biết được thì ăn roi đó". Những khi không "phát minh" được trò nghịch ngợm nào, tôi lại cà rà xem bà rửa chén bên đường mương nhỏ trước nhà, để chờ con tàu chạy qua. Mãi gần đây khi nhận được hình bà qua email anh gởi, hình ảnh quá đổi thân thuộc hiền hòa ấy - chiếc khăn vuông nỉ ca-rô quàng trên vai - đã gợi lại trong tôi biết bao câu chuyện. Thật tiếc,khi biết tin thì bà đã qua đời. Đã bao lần về Quảng Trị, tôi không hề biết để đến viếng thăm.
Lại nhớ hồi đó : chiều chiều, ba tôi thường bắc chiếc ghế dựa, nằm trước hàng hiên hóng gió và quan sát khách ra vào mua hàng, nên muốn ra ngoài chơim tôi phải vượt qua cửa ải quá nhiều khó khăn. Ngại phải bắt gặp ánh mắt nghiêm khắc của ba, tôi đành chọn giải pháp tối ưu là lén trèo qua rào trước ánh mắt nhìn "ngạc nhiên" của anh "Húi Cua". Tôi thích lang thang đi qua đường rầy xe lửa, trước mặt nhà anh, qua cái lô cốt có từ thời Pháp thuộc, để lên đồi hái sim móc và trái trang chín. Ngồi trên đồi cao bạt ngàn hoa tím, nhìn sang bên kia bờ sông, dải cát vàng uốn khúc và những hàng tre lơi lả trước gió như mái tóc dài vừa tắm gội của cô gái mượt mà. Có khi, tiếng sáo diều nghe rất thanh thoát trên cao, đó là khoảng thời gian thật êm đềm và bay bổng, ngắn ngủi của một thời thơ ấu. Sau nầy, ở đó thường có đạn pháo từ bên vùng "bí ẩn" bên kia (Như Lệ, An Đôn) bay qua nên người ta cấm không cho ai lảng vảng quanh đồi nữa.
"Húi Cua" thuôc loại người nghịch ngầm, chỉ nhìn và cười cười chứ chưa bao giờ mở miệng nói điều chi, mặc dù nhiều lúc tôi lục lạo tìm hái cỏ hoa, hay nhảy nhót trên những thanh rây trước sân, không cho anh học bài. Có lẽ anh "Húi Cua" sợ oai ông Đội, ba tôi - với cái roi mây vun vút - nên không dám đe nẹt con gái rượu của ông. Vì thế, hình ảnh "Húi Cua" chẳng đọng lại trong tôi ấn tượng gì, chỉ là gã con trai thấp, đậm người, tóc luôn luôn cắt húi cua đúng nghĩa ; anh hiền lành ít nói, nghiêm tính, thường mặc áo may ô trắng ngồi bên cửa sổ, hay tụ tập chơi đùa trước sân dưới cột điện đường. Kỷ niệm còn chăng lúc bấy giờ chỉ là nụ cười nhẹ thoáng, là một cái tên quen thuộc trong xóm cùng những hình ảnh hay cảnh vật chung quanh. Cũng có thể là gã con trai hay o con gái mới lớn biết e dè, ngượng ngập khi tình cờ gặp nhau trên lối về.
Cách đây ba năm, anh trai tôi gọi điện thọai, bảo :
- Em còn nhớ L. bạn anh không ? Nhà L. ở cạnh nhà mình hồi xưa đó. Cố suy nghĩ nhưng chẳng nhớ ra, ký ức đã quá nhạt nhòa :
- Không ! Em không nhớ.
- Ba L. làm hỏa xa với ba mình, nhà ở Rô-ra-măng ; sau đó, ông đi gòn kiểm tra đường rây xe lửa bị trúng mìn và mất đó. Anh sẽ cho số điện thoại, em đến gặp, thấy mặt là nhớ liền. L. không thay đổi nhiều đâu.
Tò mò, tôi liên lạc, nghe tin ai là người quen hồi nhỏ hay bạn học cũ là lòng nôn nóng muốn được gặp lại, huống chi, đây lại là người cùng xóm. May thay, cái tên "Tuyết Tạo" con thầy trưởng hạt cũng khá ấn tượng nên được anh nhớ ra liền. Anh vui vẻ hẹn gặp vài hôm sau đó.
Lần ấy xui ghê, trời mưa như thác đổ, mọi con đường đều ngập nước. Vì không nhớ mặt nên hai người cứ chạy tới chạy lui, người nam kẻ bắc. Nếu không nhờ cell-phone thì chắc tôi phải bỏ dở ra về. Cuối cùng, anh đứng đợi tôi dưới mái hiên của một ngân hàng (vị trí dễ kiếm). Khi đối diện, tôi nhận ra ngay anh "Húi Cua" ngày xưa : nét mặt quen thuộc, vóc dáng không thay đổi nhiều, dù đã qua mấy chục năm.
Kỷ niệm những ngày xưa thân ái dồn dập hiện về rõ nét :
Những đêm trai gái trong xóm cùng nhau chơi trốn tìm, tè núp tích bắn trước sân, khi len theo con đường có hàng chè tàu rậm rạp để tha hồ trốn kỹ, hoặc băng qua giếng nước bác Thiệu để vòng lại trước đường. Hè đến lại rủ nhau lội xuống ruộng bắt cá. Tôi thường níu áo anh vì sợ đỉa và vốn tính ham chơi nên cứ bám theo các anh. Lúc đó, tôi trông chẳng khác gì con trai, với nước da đen giòn gió nắng. Những chiều êm mát, mấy anh em trèo vào lô cốt giả làm lính Lê-dương, hay đứng trên mái : tay cầm cành cây, miệng thổi súp-lê, đóng vai người điều hành những chuyến tàu đi qua, rồi vỗ tay reo hò chào đón những hành khách trên toa tàu. Thật vui ! Khi vắng tàu, cả bọn lại kéo nhau ra sau nhà, sân cỏ đã biến thành sân bóng. Cả bọn quần thảo trái banh nhựa cách hào hứng ; hay lên giếng máy dưới cây ngô đồng đầy gai gần Ga rồi cùng tập võ với anh Tư, con cô Việt Hồng…Kể sao cho hết những kỷ niệm tuổi thơ ? Và tiếng cười đùa, la hét như còn văng vẳng đâu đây trong ký ức.
"Húi Cua" và anh tôi hay theo để xin tôi tóc chơi trò quay đá dế. Không cho thì bị cấm xem trận ác chiến trong hộp giấy các-tông của mấy cậu dế than đen óng đầy hấp dẫn. May là tôi thuộc loại dày tóc, nếu không thì cũng thành cô bé hói đầu chứ chẳng chơi. Có lần tôi lén mở hộp thả dế ra quay, ai ngờ chúng nhanh chân nhảy ra trốn mất. Chiều về cả hai anh giận tôi lắm nhưng chẳng ai dám đụng tới con nhỏ lì nầy. Chú dế như chọc tức, cứ đêm xuống lại gáy "o.o." đâu đó dưới khe cửa, hay chân bàn, kẹt tủ. Không biết sau nầy hai anh có tìm ra được không, tôi chỉ nhớ họ cứ lọ mọ, chổng mông nghe ngóng. Chơi chán, anh ở lại luôn nhà tôi, cùng học và ngủ với anh T. Mỗi lần như thế, mẹ anh lại đi tìm ; nhưng bà yên tâm quay về khi thấy con mình đang ngồi cặm cụi trên bàn học. Thời gian sau khi ba anh mất, căn phòng ấy trả lại cho Hỏa Xa. Năm ấy, hình như anh đang học lớp đệ Lục, còn tôi chỉ mới học lớp Nhất - bậc tiểu học -, anh theo gia đình ra phía ngoài gần xóm Cầu Sống,
Lờ mờ trong ký ức, hồi đó, thỉnh thoảng tôi thường ra ăn bún ở một quán ăn, hình như người nhà mẹ anh là chủ. Tôi ít thấy anh, chỉ thỉnh thoảng gặp nhau trên đường về. Lúc ấy cả hai cũng đã lớn nên không còn thân mật tự nhiên như trước. Anh tôi bắt đầu có những bạn học mới nên anh "Húi Cua" không vào nhà ở lại thân thiết như xưa nữa.
Bây giờ, anh chẳng còn là "Húi Cua" mộc mạc, hiền lành, ít nói của ngày nào. Trước mặt tôi là một người đàn ông với nét mặt cương nghị, dày dặn. Khi sự xúc động vì gặp lại bóng dáng thân quen, khi hình ảnh con đường, hàng cây ngọn cỏ cùng tiếng còi tàu bi tráng mỗi chiều lắng đọng, khi sự mừng rỡ thân thiện mất dần, tôi trở về thực tế : dè dặt trong từng câu nói, từng cử chỉ. Một cảm giác xa lạ, mất mát bỗng đến trong lòng…Thời gian và hoàn cảnh có khả năng thay đổi nhiều thứ, từ hình dáng, điệu bộ bên ngoài đến cảm xúc, suy nghĩ bên trong.
"Húi Cua" ơi ! Tôi thật sự hụt hững, thất vọng…..
Thế rồi, thời gian...Đôi lần tình cờ gặp lại anh vào những lần họp mặt cựu học sinh Nguyễn Hoàng, tôi vẫn mang cảm giác xa lạ không sao diễn tả, dù cả hai vẫn nở nụ cười và thăm hỏi giao tiếp. Thú thật, tôi nghĩ anh bây giờ vì công việc trên thương trường, nên tính cách không nhiều thì ít cũng phải thay đổi. Tôi tránh tiếp xúc vì sợ hiểu lầm là "thấy sang bắt quàng làm họ". Thật ra, tôi chẳng có lý do gì để tự mang tâm trạng mặc cảm, nhưng khoảng cách thời gian, tuổi tác vẫn cứ là ranh giới khó vượt qua...
Cho đến một ngày, biết anh vẫn nhớ bạn bè và âm thầm làm những việc tốt như : nhường cơm sẻ áo cho những anh em cựu học sinh Nguyễn Hoàng còn gặp khó khăn trong cuộc sống, là người con hiếu nghĩa với mẹ, là người anh có trách nhiệm thương yêu em út, cách nhìn của tôi đã thay đổi đôi chút về anh "Húi Cua".
Hôm gặp lại, anh tranh thủ hỏi thăm những người cùng xóm và tha thiết nhờ tôi tìm Nô "Tây lai", con trai cô Thái cùng xóm - người đã giúp gia đình anh an toàn đi vào Nam trong cơn biến loạn - ; nhờ hình dáng dễ nhận diện, anh nhờ tôi tìm hiểu hoàn cảnh và tạo điều kiện sinh sống cho anh ấy. Tôi chợt nhận ra anh vẫn là anh "Húi Cua", đầy tình làng nghĩa xóm ; con tim ấy vẫn là con tim có những thổn thức rất riêng, đầy tình nhân ái như xưa.
Tôi không quá lý tưởng để nghĩ toàn những điều hay cho bản thân mình hay cho một người nào đó. Lại càng không muốn tô điểm thêm tính cách, vì thử hỏi đã mấy ai là người toàn thiện. Tôi chỉ cảm nhận ở anh những gì tôi hiểu, đó là chân, là thiện, là mối tương quan giữa người và người luôn có nét đáng yêu. Và nếu như anh đọc những dòng cảm nghĩ nầy, xin anh hãy xem như tôi đã xin lỗi về những suy nghĩ trong thời gian trước, anh "Húi Cua" nhé ! Chúc "Húi Cua" luôn khỏe, vui vẻ, và tiếp tục đạt nhiều thành công trong công việc, để làm được những điều thiết thực cho bạn bè, cho những ai cần sự chia sẻ của anh.
Sài Gòn 2010
Quang Tuyết
Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2009
Lấy chồng thi sĩ
Tang cac thi si nguyenhoang6471
chuc tat ca mot cuoi tuan vui ve
Hiep
LẤY CHỒNG THI SĨ .
Những bài thơ anh, làm em rung cảm,
Em lúc nào cũng như sống trong mơ,
Khi bất chợt thấy lòng mình trống vắng,
Em yêu rồi, hình ảnh một nhà thơ.
Tôi đang đứng giữa gã ba đường, phải quyết định lấy chồng, một trong hai người : Anh Thi sĩ và anh Business, hai anh đều bằng tuổi, ngang ngửa nhau về “sự nghiệp”. Anh Thi sĩ đang nổi tiếng, thơ anh đăng trên nhiều tờ báo địa phương, còn anh business thì đang thành công trong nghề, nói chính xác hơn anh đang làm chủ một nhà hàng cơm phở nổi tiếng. Hai anh đều là người tử tế, đàng hoàng, và chẳng hiểu sao hai ngành nghề khác nhau thế, nhưng hai anh lại giống nhau ở một điều là cùng yêu tôi và muốn cưới tôi làm vợ.
Mẹ tôi cứ lo lắng, sợ tôi ế chồng, nay thấy một lúc có hai thằng đòi làm con rể, bà vui mừng cuống cuồng lên, cứ làm như…chính bà đang bị ế chồng. Bà cân nhắc, so sánh hai người và giục tôi:
- Con đã lớn tuổi rồi, sắp thành…gái già rồi, khỏi phải suy nghĩ cho mất công, phí thời gian, cứ lấy ngay anh …Phở cho ấm thân.
Mẹ tôi cứ gọi tắt tên anh bằng chính cái…nghề của anh cho tiện, cho dễ nhớ. Bà nói tiếp:
- Anh thi sĩ, gàn gàn, dở dở nên ế vợ cho đến bây giờ. Dẹp nó qua một bên đi con.
Tôi cãi:
- Như thế thì anh Phở cũng gàn gàn dở dở nên đến bây giờ cũng chưa có vợ đấy !
- Người ta lo làm ăn, lo làm giàu, còn anh thi sĩ thì bận rộn gì ngoài mấy bài thơ vớ vẩn đăng báo?
Mẹ tôi hứ lên một tiếng, kết luận:
- Trông người cứ lừng kha lừng khừng, ai mà chịu nổi ?
- Con chịu nổi !
Tôi tự ái giùm anh và bênh vực cho anh .Là một người yêu thơ anh, từng thổn thức vì thơ anh, nay được “thần tượng” yêu lại và muốn cưới làm vợ, tôi hãnh diện lắm, nhưng đắn đo một tí , chỉ vì anh quá nghèo so với anh chủ nhà hàng phở.
Sau vài đêm suy nghĩ, t ôi quyết định chọn anh thi sĩ, vì tôi không biết làm thơ, lấy anh tôi sẽ có cả một trời thơ cho riêng mình.Và vì tôi có thể tự nấu phở để ăn, nên…khỏi cần lấy anh chủ tiệm phở nữa.
Tôi phải hi sinh, tranh đấu với nội tâm mình và với gia đình, cha mẹ, để chọn anh, tưởng rằng khi nhận được tin anh sẽ mừng vui lắm, nhưng anh thi sĩ chỉ… lừng khừng:
- Cưới em thì chắc chắn anh sẽ cưới, nhưng anh …chưa đủ tiền !
Tôi mơ mộng thề thốt:
- Em sẽ chờ. Không có gì ngăn cản được con đường tình của em đến với anh đâu !
Anh ngẫm nghĩ, tính toán một lúc rồi nói:
- Vậy em chờ anh …mượn tiền nhà bank xem sao.
Tôi ngao ngán:
- Đợi anh mượn nợ, làm thủ tục cũng lâu lắm. Thôi, em sẽ bỏ tiền ra, chúng mình sẽ là vợ chồng, tiền của em cũng là của anh.
Lấy được người mình yêu và nể phục thật là hạnh phúc. Những bài thơ tình của anh đăng báo đều được các bà, các cô ưa thích, họ gởi thư đến toà soạn báo nhờ chuyển đến cho anh. Đọc những lời thư ái mộ đó, tôi càng cảm thấy hãnh diện và hạnh phúc thêm , bất cứ sáng tác mới nào của anh, tôi đều được đọc trước khi đăng báo, trong thơ anh ít nhiều có hình bóng tôi, có ý kiến, tâm tư tôi đóng góp vào.
Mải mê trong hạnh phúc, tôi quên mất anh Phở, anh thất tình tôi, chểnh mảng trong công việc làm ăn, nên hình như phở anh …kém ngon đi?. Kể cũng tội, giá mà ngoài tài nấu phở, anh cũng biết làm thơ hay nữa thì lý tưởng biết mấy! Tôi thích ăn phở, và yêu thơ mãnh liệt. Nhưng tôi không thể lấy một lúc hai người.
Ít lâu sau, tôi nghe tin anh Phở lấy vợ, chị này chắc có tâm hồn ăn uống chứ làm gì có một tâm hồn mộng mơ như tôi?
Tôi đi làm, chồng thi sĩ của tôi cũng đi làm, vì thơ anh có hay cách mấy cũng chẳng kiếm ra tiền. Thơ là mộng mà, nên phải lấy thực nuôi mộng. Khi cuộc sống yên ổn, có tiền trả nợ nhà, nợ xe, có cơm ăn, áo mặc, tâm hồn anh mới thoải mái nghĩ ra thơ.
Ở với anh, tôi mới biết điều đó, tính anh lừng khừng đủ thứ, nhưng sáng sớm, vừa nghe cái alarm reo báo thức, là anh lập tức ngồi nhỏm dậy, nhanh như cái lò xo, nhảy xuống giường, sửa soạn đi làm. Chẳng lừng khừng tí nào cả.
Ngoài 8 tiếng làm việc, anh lại hiện nguyên hình là một nhà thơ… gàn gàn dở dở như mẹ tôi đã nhận xét.
Cái vòi nước trong bồn tắm bị leak, nước cứ chảy nhỏ giọt cả tuần nay mà anh không hề hay biết, tâm hồn anh để ở tận đâu đâu, mỗi ngày tôi hứng được mấy thùng nước, thấy nước chảy mà tôi xót cả ruột, tháng này chắc trả bill nước cũng mệt. Tôi nhắc nhở mãi, anh mới chịu vác búa, vác kìm vào phòng tắm, anh hì hục gì trong đó không biết, một lúc lâu sau, anh cầm búa, cầm kìm ra hớn hở ….khoe:
- Không…sửa được em ơi, vòi nước vẫn chảy nhỏ giọt. Nhưng nhờ thế mà anh đã làm được bài thơ” Khi em khóc”.
Tôi vào phòng tắm, chẳng những không sửa được, mà anh còn làm…hư hỏng thêm, nước chảy nhỏ giọt nhiều hơn, nhanh hơn .Nhưng tôi cũng…sung sướng, ngạc nhiên và khâm phục hỏi anh:
- Anh nhìn giọt nước chảy mà tưởng tượng ra giọt nước mắt người yêu ư?
Anh hớn hở khoe tiếp:
- Đúng thế, làm thơ thì phải giàu tưởng tượng mà em.. Như tuần trước, trong lúc cắt cỏ vào một buổi chiều nắng, trời nóng đến chảy mồ hôi, bụi và rác bay mờ cả mắt, nhưng anh cũng…kịp tìm được ý cho bài thơ “ Gió bụi một cuộc tình ” đấy.
Trời ơi, tôi đâu có ngờ những bài thơ tình ướt át của anh ra đời trong những hoàn cảnh thực tế “phũ phàng” như thế !
Những hôm thời tiết giở chứng, âm u và mưa gió, chồng tôi ngồi trong nhà, suy tư, và ghi ghi chép chép được mấy câu thơ ( mà tôi tin chắc là hay ).Tôi bỗng chạnh lòng…thương cho anh Phở , chắc càng nhìn mưa rơi, anh càng sốt ruột…lo nồi phở ế ?!
Thơ của chồng tôi làm ra nhiều quá, không biết để đâu cho hết. Tôi bàn với anh nên in thơ để bán, tôi hào hứng lắm, nếu thơ anh được đi vào…văn học sử thì tôi cũng…ngang nhiên được vào theo, vì tôi là vợ của anh mà.
Nhà thơ mộng mơ cao ngất trời mây nhưng khi động đến tiền cũng vội vàng…rơi xuống đất, trở về thực tế :
- Anh xin em, đừng có ý nghĩ ấy nữa, in thơ là lỗ vốn, em biết chưa?
- Em biết rồi, mở một quán nhậu còn hi vọng khách đông, chứ thử mở một quán bán sách, toàn là thơ, truyện thì sẽ chẳng có ma nào đến mua. Nhưng mình vì mục đích văn nghệ, để góp mặt với đời, để mang thơ đến với khách mộ điệu bốn phương. Ai in thơ cũng đều thế cả, chứ có ai sống bằng “nghề” làm thơ đâu.
Tôi hồ hởi nói tiếp :
- Em đã hỏi nhà in rồi, không tốn bao nhiêu đâu, nếu in càng nhiều thì giá thành mỗi cuốn càng rẻ. Anh đừng lo, mình sẽ tổ chức buổi ra mắt sách, mời tất cả bà con họ hàng bên nội, bên ngoại, bạn bè xa gần, ít nhất cũng lấy lại vốn.
Chẳng bao lâu sau, 3,000 cuốn thơ tình của chồng tôi ra đời, hai vợ chồng tôi chở sách từ nhà in về chất đầy trong …phòng ngủ, thương mến và trân trọng chờ ngày ra mắt sách. Thi sĩ chồng tôi xôn xao rạo rực cũng không bằng tôi, ngày nào tôi cũng soi gương ngắm nghía xem mình có “dễ thương”, có xứng đáng là vợ của một nhà thơ không? Tôi đi mua sắm quần áo rộn rịp, làm chồng tôi ngạc nhiên:
- Cứ làm như em đang sửa soạn đi thi…hoa hậu ấy !
- Chúng mình đang sửa soạn ra mắt sách mà !
- Nhưng ra mắt sách của anh chứ có phải của em đâu!
- Em là vợ anh. Nhân vật số 2 cũng quan trọng lắm anh à. Em đã chẳng cho anh những nguồn cảm hứng làm thơ đó sao?
Chồng tôi gật gù:
- Ừ nhỉ, bằng chứng là những lúc em sai anh sửa cái vòi nước, và cắt cỏ, anh đã viết nên thơ.
Ngày ra mắt sách đã đến, ngoài anh em, họ hàng, em, cháu không sót mốt ai, là bạn bè thân của hai vợ chồng, tôi còn mời được một đống… khách nhằng nhịt, mà tôi…chẳng nhớ tên, chỉ quen biết sơ sơ lúc… đi chợ, đi chùa v...v..do tôi moi óc mãi mới nghĩ ra, mới liên lạc xin được số phone, địa chỉ để…gởi giấy mời một cách… thống thiết, nên chẳng ai nỡ từ chối cả. Nói tóm lại, không một người quen dù thân dù sơ nào “ thoát” khỏi tay tôi trong dịp này.
Bạn bè lần lượt đứng lên giới thiệu anh và ngâm thơ anh, dĩ nhiên họ cũng không quên giới thiệu tôi là vợ của nhà thơ, tôi cảm động quá.
Các bạn bè anh, phụ giúp anh tổ chức buổi ra mắt sách này, chắc đã nhiều kinh nghiệm, họ kê một cái bàn dài ngay gần cửa ra vào, sách thơ chất đầy trên đó, không người khách nào…dám ra về tay không cả, ai cũng…phải dừng lại bàn, cầm cuốn thơ lên ngắm nghía, lật qua lật lại làm như quan tâm lắm.Trong khi vợ chồng tôi đứng đó, mỉm cười liên tục…mỏi cả miệng và chờ đợi họ… móc túi trả tiền, xong họ xúm vào mở trang bìa ra xin nhà thơ chữ ký, cứ làm như mê thơ anh lắm, trân trọng anh lắm, nhưng biết đâu, chốc nữa về đến nhà, cuốn thơ có chữ ký ấy sẽ bị quăng vào một xó, không bao giờ họ nhớ đến nữa?
Có những người bạn thân chơi rất đẹp, mua một lúc cả chục cuốn thơ và trả tiền cao hơn giá bán, coi như vừa mua vừa”donate”, những người mua lẻ tẻ từng cuốn cũng trả hào phóng như thế, cuốn thơ ghi giá 15 đồng, họ trả luôn 20 đồng cho chẵn, cứ làm như cho thêm tiền “típ” vậy. Trời ơi, làm ở nhà hàng, làm nail có tiền “tip” đã đành, làm… thơ như chồng tôi cũng có tiền “tip” nữa, vậy thơ cũng đồng nghĩa với bán buôn rồi sao?
Sau buổi ra mắt sách và “cưỡng bức” khách mua thơ, có cả lòng “xót thương” và lòng “hậm hực”, vì phải tốn tiền để vác những cuốn thơ –có khi chẳng bao giờ thèm đọc- về nhà, thì vợ chồng tôi coi như lấy lại vốn, được “lời” hơn 2,000 cuốn sách lù lù trong nhà.
Không thể tổ chức ra mắt sách lần thứ hai trong cùng thành phố này nữa, giá mà thơ…ăn được thì khách mời còn đến. Trong giây phút… xao lòng, tôi hiểu ra rằng…phở còn hấp dẫn hơn thơ, hôm nay ăn rồi, mai đói lại thèm ăn nữa, còn cùng một cuốn thơ, mấy ai đọc lại lần thứ hai ??
Thơ của chồng tôi đăng “rao vặt” trên báo để bán, bao nhiêu khách ái mộ thơ anh, từng viết thư khen anh nức nở thế mà chẳng ai thèm gọi phone hay gửi thư đến order thơ anh cả, chỉ lác đác như vài giọt mưa khan hiếm trong cơn nắng hạn, vài người gởi check đến mua thơ, thì lại có hai cái check…rổm, đã không có tiền mà lại bị nhà bank phạt mấy đồng, chẳng lẽ viết thư…cãi nhau, lại tốn thêm mấy chục cent tiền tem. Mà thôi, bớt được cuốn sách nào rộng nhà thêm chút đó, cho nên vợ chồng tôi coi như…mở rộng tấm lòng…cho không biếu không, vì…văn học nghệ thuật..
Ngày tháng trôi qua, tôi không đăng “rao vặt” bán thơ nữa, chỉ tổ tốn tiền quảng cáo cho chủ báo mà thơ vẫn chẳng ai mua, những cuốn thơ bỗng trở thành…chướng ngại vật trong nhà, vợ chồng tôi đành phải di chuyển chúng xuống garage. Tôi xót xa nhìn những bài thơ trữ tình của chồng tôi nằm một xó, bên cạnh cái máy cắt cỏ, cái bình đựng xăng và bao thứ lỉnh kỉnh không tên khác để trả căn phòng ngủ về vị trí của nó.
Không còn người bạn nào để tặng thơ nữa, vì họ đều là “nạn nhân” trong hôm ra mắt sách rồi !
Trong lúc thất vọng này, tôi chợt nhớ ra một người , đó là anh Phở, người duy nhất không…bị mời, chỉ vì tôi ngại ngùng anh còn buồn còn giận tôi, bây giờ tôi tin là anh đã nguôi ngoai, nên tôi muốn đích thân sẽ mang tặng anh một cuốn thơ của chồng tôi.
Tôi bước vào nhà hàng của anh Phở lúc đang đông khách, có một người đàn bà đẹp ngồi trong quầy tính tiền trông ra dáng bà chủ, chị ăn diện lịch sự, xắc xảo, tính tiền với khách xong lại quay ra chỉ huy đám thợ đang bận ríu rít gần đó.
Nhìn đám khách đông đang ăn uống, họ thưởng thức những tô phở nóng hổi, những dĩa cơm thơm ngon của anh làm ra một cách nhiệt tình và yêu thích. Anh Phở không phải tổ chức buổi ra mắt hàng qúan của anh, không phải gởi giấy mời ai cả, không “cưỡng bức” ai cả, khách thích và cần thì tìm đến, ăn xong trả tiền, xòng phẳng và vui vẻ đôi bên.
Còn những tác phẩm tim óc của chồng tôi-của nhà thơ-là những bài thơ nằm lặng lẽ trên một góc báo, không phải ai cầm tờ báo lên cũng đọc, không phải ai cũng muốn bỏ tiền ra mua một cuốn thơ. Sao mà vô lý và buồn đến thế ?
Lựa lúc bà chủ rảnh, tôi đến gần và để cuốn thơ lên quầy:
- Thưa chị, chúng tôi là bạn của anh nhà, tôi muốn tặng anh chị cuốn thơ này.
Chị nhìn tôi dịu dàng:
- Thơ của chị à ?
- Không, đây là thơ của chồng tôi.
Chị nhìn tên tác giả và nói như reo lên:
- Đây là nhà thơ mà tôi và chồng tôi đều yêu thích, chúng tôi tuy bận rộn nhưng thỉnh thoảng đọc báo, cứ thấy bài thơ nào của anh ấy là cả hai vợ chồng cùng đọc. Không ngờ hôm nay lại được anh chị tặng cuốn thơ này, cám ơn chị, cho chúng tôi gởi lời thăm nhà thơ và mong anh sáng tác đều để chúng tôi được đọc.
Tôi đã đọc thấy trong lời nói, trong cử chỉ của chị sự chân thành của một người yêu thơ, chị và chồng chị không phải chỉ biết buôn bán với bạc tiền, suốt ngày tính toán lời lỗ như tôi đã nghĩ.
Thì ra ai cũng có hai con người trong một, nhà thơ mộng mơ lãng mạn đến đâu cũng có phía đời thường cơm áo, hay một người sống thực tế đời thường đến đâu cũng có lúc tâm hồn lắng đọng, mộng mơ. Họ không thể viết thành văn, thành thơ, nhưng biết rung động, chia xẻ với những vần thơ, câu văn, những cảm xúc ấy không thua gì người viết.
Tôi chào chị ra về, lòng hân hoan vui sướng, đây là một cuốn thơ biếu tặng, nhưng tôi đã nhận được cái giá lớn nhất, trân trọng nhất, kể từ hôm ra mắt sách cho đến gìơ.
Nguyễn thị Thanh Dương
