Hiển thị các bài đăng có nhãn . Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn . Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 1, 2011

Về một chuyến đi

Chiếc xe đưa tôi và một số đồng môn còn lại về địa điểm cuối cùng : Nhà Trần Thị Nghĩa, kết chúc chuyến đi Hàm Tân : Một chuyến đi về. Nhưng không chỉ mang ý nghĩa một chuyến đi đơn thuần. Đó là một cuôc hành trình về với con tim, và khối óc Nguyễn Hoàng.

Hình ảnh thầy Thăng, mái tóc bàng bạc như mây pha ráng chiều, cao to bên vóc dáng nhỏ thó của người vừa là thầy, vừa là đồng nghiệp: Thầy Lê Văn Quýt, mới nao lòng làm sao. Không thực tế bằng mắt, không nghe bằng tai, có lẽ khó mà cãm nhận hết ý nghĩa của ngày 1 tháng 1 vừa qua. Một ngày đầu năm, thời tiết rất êm dịu, nhóm anh chị em Nguyễn Hoàng SG chúng tôi, đã làm được những kỳ tích tuyệt vời. Xin đừng cho rằng tôi đang ngoa ngữ, hãy đọc và cảm nhận bằng chính trái tim, các anh chị sẽ hiểu vì sao tôi cho thế...

Khởi đầu từ suy nghĩ của thầy Lê Hữu Thăng, một old Nguyễn Hoàng tâm huyết. Luôn ray rức cho số phận, cho gắn bó của tình thân Nguyễn Hoàng. Từ truyền thống tập thể, đến từng hoàn cảnh mỗi một con người, và cả thế hệ cháu con, thầy sắp xếp, phát sinh bằng tư tưởng và cụ thể hóa hành động một cách rõ ràng. Thầy lại tiếp tục dạy chúng tôi, hướng dẫn chúng tôi dù luôn luôn thầy nhắc nhở: Đừng coi tui là thầy (nghe chưa?) mà hãy coi tui là HS NH (nghe chưa?). Thưa thầy! Em đã nghe rõ ràng, rất rõ và hiểu rất sâu sắc ý nghĩa lời thầy.

Anh chị em NHSG chúng tôi cùng nhau về Hàm Tân, mừng thọ 90 cựu Giáo Sư Pháp Văn Lê Văn Quýt. Tôi nghe như văng vẵng bên tai, đồng vọng tiếng thầy Thăng:

Thầy Quýt năm nay đã 90, đang còn minh mẫn, nếu tổ chức mừng Thọ, thầy sẽ vui và hưởng được tình thầy trò, chứ để sau nầy nào ai biết ra sao ...Tui thấy mình cũng đang già đi theo thời gian, năm sau hay vài ba năm nữa, sức khỏe biết thế nào, có về được hay không...”

Vậy là thầy trò đồng lòng, đồng chí...bắn tin đến các anh chị NH Hàm Tân, ai cũng thông tình đạt lý và quyết định ngày đầu năm mới tổ chức: Lễ Thượng Thọ mừng thầy Lê Văn Quýt 90 tuổi.

Các anh chị Hàm Tân bắt tay vào việc, nỗi lo khó khăn tài chính như nhẹ đi vì tâm huyết. Nào là anh Trương Tuyến, và một số anh chị nữa tôi không nhớ tên lo ngược lo xuôi. Anh Thái Mạnh Hoài ( NH 64-71) liên hệ tìm chổ vừa ý để nhóm NHSG ở lại. Nào anh Lê Núng đón nhận đoàn với tấm lòng ưu ái trong khu nhà nghỉ tiện nghi, mát mẻ. Anh Nguyễn Văn Tương từ Bà Rịa, xướng lên bài thơ chúc Thọ. Lúc đầu nghĩ đơn giản là món quà tinh thần nhỏ kính mừng thầy, với khoảng mười bài họa hưởng ứng. Dè đâu trái tim Nguyễn Hoàng dù ở đâu, xa xôi đến mấy cũng cùng chung nhịp đập, cùng rộn lên những bài họa liên tiếp gởi về. Thế là tập thơ mấy chục bài nội dung Mừng Thọ ra đời, một món quà tinh thần rất quý, điểm tô thêm ý nghĩa ngày Lễ Thọ của thầy tôi.

Tất cả anh chị em NH mọi miền đất nước có mặt hôm ấy, cũng cảm nhận được niềm hạnh phúc, sự tự hào về đạo thầy trò của những HS cũ, về nghĩa tình Nguyễn Hoàng, trong ánh mắt, giọng nói nụ cười người giáo sư Pháp Văn ngày xưa. Trên cả tuyệt vời. Một ý nghĩa không chê vào đâu được. Các anh chị có đồng ý thế không?

Sự tuyệt vời đến lâng lâng, khởi đầu là không khí chuyến đi. Trên xe, người đầu tàu chính vị thầy có bề dày công tác xả hội : Thầy Lê Hữu Thăng, Văn Thể Mỹ là thầy Lý Văn Nghiên. Đời sống sung túc no của đoàn là công lao lo toan đến từng centimet của chị Thúy An, và chị bếp Mỹ Liên. Một thư ký công đoàn kè kè máy ảnh, để ghi lại những giây phút xuất thần của mọi người: Trần Văn Hảo. Một bầy chim chiền chiện réo rắt đến vui tai: Nghĩa, Chung...Làm nhạc nền cho chuyến xe chở đầy tình nghĩa...

Lúc đi cũng như lúc về, đầy ắp tiếng cười thân thiện. Tấm lòng như mở ra để đón nhận nhau, trân quý nhau. Một anh Hòa tuy ít đi sinh hoạt chung, nhưng tôi vẫn được rỉ tai cảnh giác: anh ấy chĩnh chu, chừng mực từ tiếng cười câu nói, “tụi nhỏ” phải cẩn trọng, đừng ăn nói tùy hứng. Một anh Phùng không kém khó tính, luôn đòi hỏi giới hạn cư xữ theo đúng vị trí. Một anh VK Ngô Hồng chưa tiếp xúc nhiều, nên chẵng biết anh ấy có chan hòa với đám lô nhô, già không đều nầy hay không. Một DS luôn cẩn trọng ăn uống vì sợ vi trùng. Một Đặng Mừng văn vẻ từng chữ từng câu, một Mỹ Liên thích chi nói nấy, NV Trị còn nguyên vẹn tuổi thanh xuân. Và cả tôi, cũng hay bay bỗng theo thời khắc... Liệu sẽ thế nào, nếu chẵng may có chuyện bất đồng xãy ra. Ôi chao! Lo muốn chết đi được.

Tôi đã dự định chia thành hai xe: lâu la nhền nhện một xe ( anh Hòa đặt tên cho nhóm chị Cúc, chị Hoa). Thầy cô, và đàn anh, đàn chị riêng một xe. Tha hồ tung hứng, nói đùa. Nhưng chị Thúy An trấn an:” Không răng mô em ơi! Đừng quá lo, đi chung cho vui” Rứa là chỉ một xe. Lên đường trực chỉ Hàm Tân lúc 5g sáng mồng 1.1.2011. Mở đầu một năm mưa thuận gió hòa. Sung túc ấm áp

Thiệt lòng không biết kể từ mô, phát xuất từ ai mà bao lo nghĩ đã vỡ tan, theo tiếng cười quanh những câu chuyện tiếu lâm. Từ thầy cho đến trò, từ đàn anh cho đến đàn em, trở thành những MC, những quãn trò tuyệt vời. Những câu đố vui treo giải nóng hổi của thầy Thăng, của Đặng Mừng. Có câu phải vận dụng trí tuệ, có câu gợi lại ký ức về Quảng Trị, đến thăm dò tình yêu đầu tiên, ý thích của hai người thầy vui tính, hoạt bát ( Quan sát thấy cô Liên mĩm cười khi nghe những câu hỏi đố quá ư “Tế Nhị” của học trò về ông xã mình, tôi tin rằng nếu cứ sinh hoạt tập thể như thế, khả năng bịnh cô thuyên giảm rất lớn.).

Cô bạn phụ trách ẩm thực: Mỹ Liên xuất chiêu bằng giọng rặt ri Quãng Trị, câu nói thẳng ro kèm âm điệu, tiết tấu và phụ gia thêm mắt liếc ngọt ngào, làm những kỹ niệm xãy ra một thời, là cô tiểu thương buôn gian bán lậu, hay câu chuyện đời thường 100% càng thếm hấp dẫn. Mọi người nghiêng ngã vì cười. Không khí òa vỡ ra theo cung bậc niềm vui thăng hoa. Tôi cũng bốc lên, diễn một màn thương vay khóc mướn, ra câu đố có thưởng ngộ nghĩnh. Đến nỗi anh Hồng vui miệng nói:

“ May cho tôi là thời còn trai trẻ, không đụng phải mấy cô”.

Mỹ Liên trả lời: “ Vì rứa nên tụi em đến 30 thì ế cho đến chừ”.

Không đâu anh Hồng ơi! Quang Tuyết xin thật lòng tâm sự : Tụi em thà ở như ri, buông rơi mãnh tình riêng, sống trong sự ao ước, đem được niềm vui chan hòa đến mọi người, để nhận hạnh phúc bao la từ các anh chị đấy. Khôn chưa?

Xin kể tiếp: Đặng Mừng hôm ấy tuyệt vời ghê, rất duyên và ý nhị kèm theo tiếng cười sãng khoái, khi phõng vấn thầy mình, một vài anh chị NH mình về cả chuyện tâm tư. Nào có ai e ngại? Nào có ai lấy đó làm khó? Chẵng có cái nhíu mày mô cả, dù chỉ một thoáng. Chỉ có niềm vui thân thiết như sóng vỡ bờ. Không có một ai, từ thầy đến trò. Từ anh chị cho đến em út. Như câu trả lời vui vẻ của chị Lê, khi đàn em: Đặng Mừng phõng vấn:

Chị sẽ chịu đựng bằng cách nghiến răng...”

Hay thầy Thăng:

Tui cũng như mấy o, mấy chú. Tui là người trần mắt thịt chứ đâu phải thần thánh chi...”

Trị nói:

“ Thầy thích ăn cà-rem, và thường mua ca rem nhà cô Liên vì thương thầm cô”

Đúng rồi, câu chuyện tình phát xuất từ cây kem lạnh đã trở thành tình vợ chồng ấp áp cho đến ngày nay.

Tất cả mọi người đều cầm Mic. Đều bày tỏ cảm nhận hay góp mặt một câu chuyện. Những giọng nói, tiếng cười phát xuất tự nhiên thoãi mái, nghe ra dể thương và ý nghĩa làm sao. Vâng, Làm sao quên tình cảm các anh: Hòa, Phùng, Tường, Thế và Hảo? Làm sao quên những người chị diu hiền, thân ái: Thúy An, Cao Nguyên, Cúc, Lê, K. Oanh. Ai cũng cảm thấy gần gũi tin cậy nhau, nên bí mật nào, sự riêng tư nào cũng chân thành tâm sự, anh Ngô Hồng thì có một mối tình đã đẹp vì dang dỡ. Lần tìm về gần đây người ấy không còn nữa. Đặc biệt tài lèo lái chuyện của chị Liên Hoa. Từ nỗi lòng riêng về mối tình xưa cũ, chỉ một phút xao xuyến, một cái nắm tay sau mấy mươi năm gặp lại. Đến băn khoăn ân hận khi chợt nhớ đến người chồng vắn số. Chị đã tâm tình với tất cả bằng những câu thơ đậm tình, đậm nghĩa. Rồi cũng từ lời chia sẻ từ chị Liên Hoa, chị Kim Oanh, tôi và mọi người biết thêm về tấm lòng bao dung, thân thương của chị Thúy An đối với bạn bè.

Xe đến địa điểm tổ chức : Nhà hàng HỢP PHỐ rất sớm : 9g45, chặng đường dài qua đi quá nhẹ nhàng. Các anh trong ban tổ chức Hàm Tân đã có mặt đông đủ, đón chúng tôi. Anh Trương Tuyến, anh Nguyễn văn Tương, anh Vũ Phúc (ĐN)...và rất đông quý anh chị khác. Thầy Quýt đón thầy trò chúng tôi với nụ cười, nét mặt rạng rỡ. Ôm choàng thầy Thăng và thầy Lý Văn Nghiên. Rồi quay sang chúng tôi xoa đầu, ôm vai vổ nhẹ: “Giỏi ...giỏi...Tui vui quá”... .Chỉ câu nói ngắn gọn thế thôi, mà chứa biết bao nhiêu niềm xúc cảm. Tôi rưng rưng muốn khóc. Nào phải nước mắt chỉ rơi khi buồn, nước mắt chỉ rơi khi giận...khi sợ hải... Cả niềm vui, hạnh phúc chân thành cũng có thể làm chúng ta phải khóc. Tôi cảm nhận được hạnh phúc trong lòng thầy. Thầy trò Nguyễn Hoàng đã, và đang làm được thêm một việc có ý nghĩa, thực tế trong tình nghĩa thầy trò.

Hãy nghe thầy L.V.Q nói: Tôi vui quá, bây giờ có ra đi, cũng là sự ra đi hạnh phúc trong sự nghiệp làm người gieo hạt...

Nhà hàng nơi anh chị Hàm Tân chọn làm địa điểm tổ chức, là của một Gia Đình Nguyễn Hoàng thân thương : Thầy Lê Hữu Trấp, cùng 5 người con trai, gái đều là CHS NH.

Tôi cùng các anh Hảo, anh Thế và Trị tìm lên thăm thầy và thắp hương tưởng niệm cô. Anh Thế ôm thầy nói trong nước mắt:

Bố ơi! Bố khỏe không?

Sao bố không xuống dự với tụi con cho vui.”

Thầy đưa gói thuốc nói: “ Mấy hôm nay huyết áp lên, phải uống thuốc...” Nhìn di ảnh cô trên bàn thờ, anh Thế lại muốn khóc...Tôi hoảng quá, thắp hương xong vội chào thầy đi xuống nhà...

Buổi lễ diễn ra trong đầm ấp. Tôi vinh dự được chọn một trong những anh chị em lên ngâm diễn bài thơ của mình mừng thọ thầy. Những bó hoa Cúc, Thọ lễ mễ mang ra từ Sài Gòn, tương trưng sự ao ước SỨC KHỎE- TRƯỜNG THỌ của CHS NH gởi đến người thầy kính yêu. Sau bữa tiệc thân mật, nhìn lại đồng hồ đã gần 2g. Đoàn tạm biệt thầy và tất cả anh chị Hàm Tân, lên xe đến nhà nghỉ CAM BÌNH.

Một khu nhà nghỉ thoáng mát, sạch sẽ. Cách biển chỉ khoảng 200m. Mang tên hai miền quê hương thân thương của đôi vợ chồng NH khóa 64-71: Lê Núng. Cam Bình, ghép từ hai địa danh: Cam Lộ và Bình Thuận.

Anh chị tiếp đón chúng tôi rất tình nghĩa, ưu ái. Còn nhã ý mời đoàn ăn bữa cơm tối thân mật, nhưng vì mọi người đã đi chơi lẻ tẻ, nên chúng tôi đành từ chối. Khi mọi người lục tục trở về, thì đã thấy dàn Karaoke,do anh chị gọi người chở đến, phục vụ buổi sinh hoạt đêm thay lửa trại không thự hiện được, như trước đây dự tính,

Một đêm hát hò vui vẻ, mọi người toát ra tất cả sở trường của mình. Các anh lớn tuổi thì đánh cờ say sưa, không hề chút mệt mỏi. Vợ chồng cô bạn NH cùng khóa với Chung, Nghĩa ở Lagi, lúi húi cả buổi sáng làm bánh bột lọc mang ra chiêu đãi. Mộng con thầy Quýt thì cung cấp bánh dừa, bánh bột lọc gói...Thêm thức ăn khô chị Thúy An . Một bữa tiệc thịnh soạn. Và cuộc vui bắt đầu từ dàn máy, đến guitar thùng, nhạc công bất đắc dĩ, với các ca sĩ vượt thời gian...Khi tôi trở về phòng đã quá nửa đêm, các anh và một số chị vẫn còn rôm rả chuyện trò, quanh chiếc bàn nhỏ ngoài hoa viên nhà nghỉ.

Sáng sớm chưa tỉnh giấc, đã nghe lao xao ngoài cửa phòng. Bích thủ quỷ định đi dạo biển sớm, ngắm mặt trời lên để ước duyên tình muộn. Nhưng cổng nhà nghỉ chưa mở, nên cô nàng đành loanh quanh trong sân. Chúng tôi qua đập cửa đánh thức các anh chị. Cùng kéo nhau đi bộ ra biển. Trên đường đi, cô bạn Mỹ Liên lại xuất thần đóng vai người bán bóp: “ Bóp đây!!!Ai mua bóp khooong! Bóp trên 10.000, bóp dưới 20.000 đâyyyy” Mọi người lại có thêm tràng cười thú vị.

Hôm ấy biển đầy sóng, nên không ai dám tắm. Chúng tôi chỉ ghi vài hình ảnh biển Lagi cùng ánh mặt trời của một ngày mới đầu năm, rồi các chị lại kéo nhau ra chợ ăn quà vặt. Chúng tôi cùng thầy cô thong thả cuốc bộ đi ăn sáng, uống cafe. Những tô bún thơm ngon, đậm mùi vị Quảng Trị, nhờ các anh chị như Trị, Kim Chi, Mỹ Liên..Nghĩa nhào vô bếp phụ cô bán hàng.

10g xe lăn bánh trở về. Lời ca tiếng hát lại vang lên. Câu chuyện vui buồn lại tiếp tục. Cô giáo Giáng Hương tự nhủ:

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui...

.....................................................

Út Hưng với câu ca dao trào lộng...

“ Cô kia cô kỉa cô kìa.....”

Mừng với tiếng cười phóng khoáng...Ngọc Chung...rồi tiếp Mỹ Liên...Một bữa tiệc tinh thần thịnh soạn tiếp tục....

Các anh Đồng Nai: Trần Hữu Giáo, Vũ Phúc, .....liên lạc cô út Liên Hưng mời chúng tôi ghé lại. Địa điểm họp mặt khá lý tưởng. Những món ăn tuy đơn giản mà rất ngon miệng. Những ân tình quá ngọt ngào. Bữa ăn vui như tết cùng Ly Rượu Mừng do thầy Nghiên chủ xướng cùng tất cả phụ họa. Tiếng hát, tiếng đàn bay bổng

Rộn ràng như pháo mừng xuân

Thầy ca trò hát tình thân ngọt ngào

Chia tay các anh trong lưu luyến, hẹn ngày họp mặt đầu năm. Chúng ta lại tụ về một khối, để đón nhận niềm vui ấm áp của Nguyễn Hoàng.

Amatar, điểm dừng đầu tiên trả cô út Liên Hưng cùng anh bạn Lê Thiện Ngữ.

Số còn lại tiếp tục lưu luyến hứa hẹn rồi chia tay, chia tay MỘT CHUYẾN ĐI VỀ

.

Tôi và các bạn về điểm cuối cùng . Cảm giác như tất cả mọi người, là những cánh cò chở nặng tình người trở về với ngày xưa thân ái. Về thời áo trắng thơ ngây, còn nguyên vẹn những tâm hồn trong sáng, vô tư. Chỉ biết cười đùa vui vẻ, chỉ biết yêu đời thương người. Tâm hồn chưa trầy trụa vì những vết đau thời cuộc, vì số phận cuộc đời nghiệt ngã. Chúng tôi trở về với chính chúng tôi.

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui....

Chúng tôi đã cùng nhau chọn niềm vui cao quý Nguyễn Hoàng...Đã chọn niềm vui đạo lý muôn đời của tấm lòng Sư, huynh, đệ...Chúng tôi: Thầy cùng trò. Anh(chị) cùng em đồng hành trên chuyến xe mang tên TÌNH NGUYỄN HOÀNG

TB: Mấy hôm sau, anh chị Hòa – An đã mời mọi người bữa cơm thân mật. Anh chị tâm sự lý do: “ Về nhà mấy hôm nay, thấy nhớ tất cả mọi người nên lấy cớ tiển anh chị Thăng để được gặp nhau”...

Sau chuyến đi, chúng tôi gồm: Trị, Mừng, M.Liên, Nghĩa, Bích, Chung và tôi được mang cái tên mới rợi, do anh Hòa và anh Phùng đặt cho: Nhóm Bồ Chao

Tôi chợt nghĩ ra rằng, giới hạn trong số phận con người, không quan trọng bằng chữ tình chữ nghĩa, từ dòng chảy Nguyễn Hoàng trong tim mỗi người. Để những câu khẩu hiệu của bạn Nguyễn Văn Trị, thoạt nghe như chỉ là một hình thức, đã lay động được cả mọi trái tim, mọi lứa tuổi : Nguyễn Hoàng thân thương, Nguyễn Hoàng đoàn kết, Nguyễn Hoàng gắn bó..


TM/NH SG. Quang Tuyết


Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010

ĐINH TRỌNG PHÚC – KÝ ỨC MÙA LŨ



“Ông tha mà bà chẳng tha

Làm nên cơn lụt hăm ba tháng mười”

(Ca dao)

Thời con nít, tôi vẫn khư khư một ý nghĩ rằng câu ca dao trên chỉ dành riêng về quê ngoại mà thôi . Sao mà không riêng cho được khi hàng năm cứ đúng gần cuối tháng mười âm lịch, bầu trời Quảng Trị chỉ một màn đen xám ngắt, tối ‘sầm sập’ của mưa, của gió, của cái thứ không khí ẩm ứơt nặng nề, tất cả gom lại làm dấu hiệu cho cơn lụt tháng mười đang đến .

Đêm đêm tôi nằm nghe tiếng sấm từ hướng biển, hướng thôn Gia Đẳng , Thôn Ba Lăng hay Long Quang vọng lên, tiếng sấm đó nghe “ùng ục, ùng ục”, thứ âm thanh thật lạ tai mà mệ ngoại tôi thường gọi là ‘sấm đất’ :

“Ôn Trời sắp mần lụt rồi đó,” ngoại tôi thường nói vậy .

Thế là đêm đêm tôi nằm ngủ nhưng tai lại cố lắng nghe tiếng sấm “đất’ đầy bí ẩn đó. Tiếng sấm như dưới lòng biển phát ra, dội lên chân trời hướng đông. Thỉnh thoảng tôi ghé mắt nhìn ra khe hở của khung cửa sổ, những tia chớp chốc chốc lại lóe lên chân trời đen thẩm. Lại cũng tiếng ‘ùng ục , ùng ục’ từng hồi, trời trở mình như muốn báo rằng: mùa lụt đang về:

“Đêm đêm chớp bể mưa nguồn

Hỏi ngưới quân tử có buồn chăng ai ?”

(Ca dao)

“ Chớp bể mưa nguồn …” ư ? Câu ca dao này xét cho cùng, đó là kinh nghiệm lâu đời của người miền Trung, ở đây lại càng trùng hợp với quê ngoại tôi một lấn nữa. Ban ngày hướng mắt lên Trường Sơn, tôi chẳng còn thấy màu xanh bất tận của núi rừng như trong mùa hạ nữa. Hướng đó lúc này chỉ là một màn trời đen nghịt: MƯA NGUỒN, mưa đang che núi, phủ rừng ngày này qua ngày khác, liên tu bất tận suốt một tuần. Mưa, mưa lớn lắm, những màn mưa khổng lồ trên đó che luôn cả ngọn núi cao; Động Ông Do, đỉnh Đầu Bò không còn thấy dạng. Tôi còn nghe tiếng sấm sét từ trên đó vọng về. Và rồi cái sự kiện ‘vĩ đại’ mà tuổi nhỏ của bọn tôi hằng mong đợi trước sau gì cũng đến, phá tan nét tĩnh lặng, trầm buốn cái xóm tên là Cửa Hậu thân yêu muôn thuở :

- “Lụt, lụt, bây ơi, đi coi lụt.”

Tiếng mấy thằng bạn tôi í-ới kêu nhau ngoài ngõ.

Có gì thích thú cho bằng mỗi năm lũ bạn chúng tôi được dịp cùng nhau chạy về hướng bờ sông coi lụt, để được lội nước, được thỏa thích chứng kiến những gì dữ tợn nhất của ‘ôn Trời’ .

Con đường Lê Văn Duyệt chẳng bao xa là đến giáp với đường bờ sông ngang cống Quân Cụ thông ra sông . Người ta đi coi lụt khá đông, giữa đường họ râm ran hỏi nhau :

- “Lụt năm ni to hơn năm ngoái khôn hè ?”

-“To hơn chơ nị! ”

Riêng bọn tôi cứ cắm đầu, cắm cổ cố chạy cho nhanh, cho mau đến bờ sông.

Ôi chao ! Mới mấy tuần núp trong nhà tránh mưa, trốn gió, giờ ra đây mới thấy giòng sông hiền lành đó đã biến đổi không biết khi mô .

Con sông nhỏ bé giờ chỉ là một biển nước đỏ ngầu, nước mô trên rừng trên núi, nước Trường sơn trùng trùng điệp điệp đổ về dưới “ni răng mà dữ tợn ?” Nước mênh mang, nước vây khắp chốn, giòng chảy xiết không bến chẳng bờ. Chênh chêch bên kia Bãi cát Nhan biều mất tăm, không còn dấu vết, chỉ còn mấy rặng tre còn ngoi ngóp như cố vươn lên làn nước trên rừng đang hùng hổ tràn về mà thôi. Giòng nước đục ngầu, càng lúc càng chảy băng băng, nó cứ cắm đầu cắm cổ trôi nhanh về biển. Giữa giòng vô số xoáy nước, to có, nhỏ có cứ quay cuồng xoắn tít. Rồi còn thêm vô số thân lau xác lách cứ thế mặc sức theo giòng nước. Chúng như xô đẩy nhau, thi đua trôi thật mau về thăm biển cả Thái Bình. Thỉnh thoảng theo làn nước dữ kia, nhấp nhô mấy cấy gỗ mục trên rừng trôi về. Nhà ai đó thật gan, nghe đâu vớt được cả đống củi trời cho này . Thuở này thiên hạ còn nấu ăn bằng củi, nên gỗ rừng khi trôi về xuôi tấp một mớ vào bờ khiến họ mừng rơn .

Tôi hướng lên Cầu Ga, vẫn còn hình dáng đen xì của chiếc cầu quen thuộc đó. Nó vẫn an toàn, đứng vững , nối nhịp thương yêu hai bờ nam bắc.

-“ Năm ni, chắc nước khôn vô chùa mô hỉ ?"

Một ông già vừa đứng cất rớ kiếm mớ cá nước lụt vừa lo ngại nói với bọn tôi như thế .

Ngoảnh nhìn hướng cống chùa Tỉnh Hội nước còn một chút nữa là đến cổng Tam quan, bãi cát trước chùa thì hoàn toàn mất hẳn, nước đang mấp mé bờ đường .

Phía đập Rì Rì thì không còn nữa, giòng lụt đã cắt ngang. Hướng phía Sãi chỉ còn nhìn thấy hình bóng lũy tre mờ mờ, cong cong - biết tin gì không dưới nớ? Nước lụt ngăn cách đôi bờ. Chẳng ai dám liều mạng băng mình qua giòng nước đang xé đập RÌ RÌ tràn vào nhánh sông Vĩnh Định. Không ai qua được đoạn đập non nửa cây số bị nước cắt ngang. Tầm mắt tôi gắng nhìn bờ tre phía Sãi như đang rướn mình chịu đựng, oằn oại, cố hết sức ngăn cản giòng nước dữ đang muốn xô đẩy hất tung tất cả để xoáy vô làng .

Tuy người ta biết lụt sẽ hết, nước sẽ rút dần thôi, thế mà khoảng thời gian bị cách chia không về được làng , không lên được Tỉnh, họ xem chừng lâu quá, như cả cuộc đời. Hai bờ lóng nhóng những người thân đang nhấp nhỏm chờ cơn nước rút, họ tưởng chừng như vĩnh viễn xa nhau thật sự đến nơi.

Giờ thì tôi thích thú nhìn mấy con cá trắng nhảy đang nhảy long chong trong cái rớ mà ông già vừa cất lên. Ông già rung rung cho mấy cọng rều rớt lại xuống nước, đùn mấy mấy chú cá trắng xuống tận đáy lưới, phần nhiều là diếc. Ông già vội hắt hết vào cái vợt nhỏ, xong ông bỏ cá vô cái oi đeo bên thắt lưng. Nhìn mấy con cá trắng làm tôi nhớ đến tô cháo cá diếc với bụng trứng béo ngậy vàng hươm mà mạ tôi thường hay nấu vào mùa này.

Xem chừng nước càng lúc càng dâng cao. Tôi lại nghe phía sau, mấy con đường nhỏ trong xóm Heo (cái tên xóm Heo, oái ăm thay lại gần xóm Chùa Tỉnh Hội, khi nghe tiềng chuông công phu buổi sáng thế là dân trong xóm thức giấc, nhưng lại thúc giùm ông thợ mổ heo luôn thể ; thật là chuyện khó lòng cho các thầy lúc này không sao giải trừ được nghiệp SÁT SINH ) người ta bắt đầu lội nước , xóm thấp hơn mặt đường xe chạy nên nước trong xóm có nơi sâu ngang ngực . Xế trưa nước bắt đầu mấp mé tràn lên đường. Ngang Cống Quân Cụ trước mặt Ty Thú Y giờ này nước đã tràn qua thật rồi. Vài con cá, tôi không biết cá gì, lại “bon chen” trườn mình theo làn nưóc lấp xấp trên mặt đường băng ra sông .

Thằng Mẹo, một đứa trong bọn tôi vắng đi một hồi không thấy hắn đâu, thì ra hắn đang hì hục kéo một nhánh phượng gãy thật to đem về nhà làm củi. Cái thằng !

“ Ngó rứa mà thương nhà hắn dữ thiệt a , thật là thằng con có hiếu , đi chơi lụt hắn cũng không quên chuyện kiếm củi về cho mạ hắn,” tôi nghĩ thầm trong bụng.

Giữa giòng nước đang chảy băng băng đó tôi lại thấy nhấp nhô một thân cây rừng thật lớn. Ai cũng xuýt xoa chỉ trỏ, tiếc cho một cây củi khống lồ, ước chi nó tấp được vào bờ. Riêng tôi thì chẳng màng chi thứ viêc người lớn; con nít như tôi chỉ một cái thích: lội qua - lội lại trên làn nước đang băng qua hai cái cống:Trại quân cụ, và Ty thú y mà thôi. Nước tràn qua mặt cống khá mạnh, vừa lội tôi vừa hồi hộp, tim đánh liên hồi sợ nước cuốn tôi xuống sông trôi về biển mất thôi.

Cũng còn may, khi lụt về đến đồng bằng thì trời lại ngưng mưa. Nhưng chính thời điểm này lại là lúc bao nhiêu nước trên nguồn dồn hết về đây. Nước đang tràn vào sông đào Vĩnh Định, nước sẽ ngập đồng ruộng An Tiêm , Hạnh Hoa và luôn cả cánh đồng sau xóm Cửa Hậu bọn tôi nữa đó.

Đây cũng là dịp trong xóm tôi nghe chừng rộn ràng, bát nháo hẳn lên vì cái chuyện đi nơm cá ngòai đồng. Hàng năm vào lúc lụt như thế này, rất nhiều cá gáy theo cơn nước lụt lên đồng tìm chổ đẻ trứng. Thỉnh thoảng chúng nó như ‘tức trứng’ thi nhau quẫy trên mặt nước. Đứng xa người ta còn thấy cá quẫy, dân trong xóm đua nhau cầm nơm bươn bả nhào tới, tiếng la tiếng hét loạn xà ngầu. Trên cánh đồng giờ này người nơm cá rất đông, nước ngập quá bụng mà chẳng ai lo chi chuyện ướt và lạnh. Có ai đó chém được một con gáy thật to. Có người khi nơm được một con quá to, mừng quá la toáng lên kêu bà con tới phụ bắt .



Thằng Mẹo xóm tôi, cái thằng coi bộ việc chi cũng rành. Hắn không biết kết xong từ lúc nào cái bè chuối thật to. Hắn vừa chống bè vừa khoái chí kêu tôi cùng lên bè đi chơi với hắn. Tôi là thằng “nhát gan thỏ dế” làm gì dám nghĩ tới chuyện lên bè với hắn .

Nghĩ cũng tội nghiệp cho cái xóm mới mọc lên sau này, nhà họ sát cánh đồng, bìa ngoài xóm Hậu của tôi. Họ đang bị cái họa “ách nước tai trời” đày đọa, phải đi tránh lụt, phải đi xin “ăn nhờ ở đậu” ít ngày tận xóm ngoài tức mấy chục nóc nhà “cố cựu” cạnh con đường nhựa tức là con đường Lê Văn Duyệt trước Cửa Lao Xá. Xóm ngoài này may mắn không bị nước lụt “xâm lăng”. Dĩ nhiên không ai nỡ lòng từ chối, xóm giềng mà !

Ai chà ! cái thích của bọn tôi xem ra cũng ‘ác’ vì bọn tôi sao lại mong cái cảnh lụt lội như thế này mãi để chạy đi xem, đi chơi, đi lôi lụt; trong lúc bà con mình sau xóm lại đang vất vả ngược xuôi khổ sở trăm bề ! Nhưng xét cho cùng thì chính Ôn Trời gây họa chứ ai vô đây nữa ! Lũ con nít bọn tôi chỉ là vui ‘ké’ mà thôi !

Cái nhà thằng Bốn (NguyễnVăn Bốn), cùng lứa với tôi. Ba hắn có xe đò QuảngTrị- Huế. Năm vừa rồi chú Ba, ba hắn (nhưng hắn vũng kêu chú vì kiêng tên) mới xây xong cái nhà ngói thiệt to sau xóm vì ba hắn bán nhà cũ ngoài đường mua đất sau đồng này có vườn tược rộng rãi vui thú tuổi già. Nền nhà thằng bạn ‘nối khố’ này xây lắm công phu và tốn kém rất ‘hung’. Cát đổ nền, ba hắn (tức là chú hắn) thuê xe lấy tận bờ sông chở về, mất cả tháng trời mới xong . Nội cái nền không thôi đã cao hơn một mét thế thì làm chi có chuyện nước lụt làm ướt đồ đạc trong nhà hắn được. Xóm Hậu “Mới” này chỉ có nhà thằng Bốn không lo cơn lụt mà thôi, chiếc xe hàng (xe khách) ba hắn (tôi lại quên nữa! của chú hắn) thì tạm thời ‘lánh nạn’ ngoài đường ‘quan’ tức là con đường nhựa Lê Văn Duyệt đó. Còn lại đa số bà con ngoài này chỉ toàn là ‘tạm cư’ bởi thế mới long đong . Bà con dưới làng mấy năm nay chạy lên chạy về tránh bom tránh đạn, đi riết một hồi không biết làm chi ăn nên đành phải ở lại Tỉnh luôn. Số bà con này mang kiếp ‘tản cư ‘ nên nhà cửa đương nhiên tạm bợ, cái lợp tranh , cái lợp tôn , “lỏng chỏng, le te”. Vợ con gia đình nhiều phần ăn theo đồng lương lính tráng, kiếm được đồng nào xào đồng đó nên vách nhà của họ thì tôn có, ván ép Mỹ cũng có , tạm che gió lánh mưa mà thôi cần chi cho đẹp. Nhà cửa tạm dung thân, vì thế nên dựng vội xây vàng bên mé ruộng bờ ao nên nền nhà mới thấp lè tè, cơn lụt mới lên mà nước đã liếm tận vạt giường khiến bà con mất ăn bỏ ngủ .

Lội bì bõm dò theo con ĐƯỜNG NGỰ (đường ngày xưa vua trong Huế có ra thăm Thành Cổ vua không biết niên hiệu nào ngài có ngự ra thăm cánh đồng này. Đường đắp cao và to cho vua ngự nên gọi là Đường Vua Ngự hay là Đường Ngự). Tôi chỉ thấy cánh đồng thân yêu giờ đã loang loáng nước. Nước phủ tràn trề, từ con sông Vĩnh Định chặng thôn An Tiêm mênh mông lan đến xóm Tiêu xóm thằng Hiệp (Lê Văn Hiệp đang ở tại San Jose) vươn đến xóm Hậu của bọn tôi và lao qua đến tận thôn Hạnh Hoa “lãnh thổ” của thằng Hậu (Nguyễn Hậu đang ở tại Hayward CA). Đứng mé xóm sau tôi thấy giờ tất cả chỉ là một màn nước đục giống một cái đầm vĩ đại mà Ông Trời sau một đêm đã tạo một “cảnh biển dâu” như vậy đó .

Những làn sóng nhỏ lao xao, nước cũng đục ngầu. Theo làn gió nhẹ văng vẳng tiếng bà con đi nơm cá kêu nhau, loáng thoáng vài con chim nhạn bay lướt qua mặt nước.

Tôi nhìn ra thằng Mẹo, hắn như một “anh hùng trên biển cả ” đang chống chiếc bè chuối thật to, công trình “vĩ đại” của hắn. Chiếc bè rong chơi của thằng Mẹo đi men theo mấy vườn chuối sau xóm mà giờ đây mấy vạt chuối đó chỉ còn phần đọt ló lên trên mặt nước mà thôi.

“Cảnh biển dâu?” xem chừng đúng thật: mới ngày nào –mùa hạ - bọn tôi với những cánh diều no gió thi nhau đứa nào cao đứa nào thấp cũng ngay trên cánh đồng này.

Cũng những chiều mùa hạ có gió, lại có thêm sự xuất hiện của con diều cậu tôi. Đây là con diều lớn nhất xóm, nội hai cái cánh thôi cũng dài hơn một mét. Thật là thứ diều của người lớn vì rất khó làm. Nội chuyện cột dây “lèo” dưới ngực nó không thôi để cho con diều bay được cũng khó lắm rồi. Một thứ rất đặc biệt nữa -- nó mang tới 3 ống sáo trên lưng- thứ sáo này một tay ‘nghề’ tận Gio Linh làm ra. Con diều cứ mãi ăn gió bay thâu đêm cùng vơi tìếng sáo nghe “O.. O “ vui tai, bất tận. Sợi dây diều làm bằng loại dây gai loại to, mua trên Chợ Tỉnh mới có, dây cứ căng mãi trong đêm. Đây là thú chơi diều của người lớn, tụi nhỏ như bọn tôi không bao giờ làm được, hơn thế nữa sức yếu làm gì kéo nỗi.

Tiếp đến cái cảnh những thửa đất cày khô nứt nẻ, cảnh mấy bác nhà nông hai thôn Hạnh Hoa, Cổ Thành đập đất bằng cái chày vồ. Những tảng đất cày to lớn, được cày lật lên từ lâu, khô cứng dưới ánh nắng gay gắt mùa hạ. Những cái đập đều tay chắc nịch, đầy bụi mờ, rồi những giọt mồ hôi mệt nhọc, mấy bác kiên trì đập mãi cho xong thửa đất.

Đó là chuyện mùa hè, mùa nghỉ học, mùa thả diều, mùa đá rế, mùa của trò chơi ‘đá lon’ hay “ hô la manh” (haut –la main ?).

Thu đã qua, lũ bạn tôi đi học lại ít tháng thì trời chớm đông. Tháng mười, giờ trước mắt tôi đang là mùa lụt, mùa của “ông tha mà bà chẳng tha”. Tuổi nhỏ rong chơi, vô tư vui thú trong cái nhịp điệu nắng mưa của trời đất, của một miền Trung khô căn cát đá, nắng dãi mưa dầu. Bữa cơm mùa lụt, chợ đò ít đông nên món ăn chẳng có chi. Có khi bữa cơm chỉ là mớ cá “lòng tong” mạ tôi kho sỗi với ít ớt, ít gừng nhưng sao ngon miệng lạ lùng.

Thời gian qua nhanh, băng băng như giòng lụt năm xưa đó. Những thăng trầm thời cuộc kéo thêm những lở lói của núi rừng Trưòng sơn cùng những loang lổ của lịch sử và luôn cả tâm hồn nhân thế .

Trường Sơn loang lổ, bị ‘lóc da xẻo thịt’ từng ngày. Thiên hạ còn đốt phá rừng xanh chạy theo miếng cơm manh áo. Bởi thế từ phương xa, mỗi khi tôi nghe tin lụt quê hương, ôi chỉ toàn là tin chết chóc thảm thương. Lụt mỗi năm mấy trận, lụt “răng lụt mãi rứa hè?”, trận này chưa dứt thì tiếp nối trận kia, lại còn hung hãn tàn ác khác xưa nhiều lắm. Những cơn lụt “Thế Kỷ-thuật ngữ sau 1975” thứ lụt mà cả đời ông già bà lão cũng chưa từng ‘chộ’, chết chóc, nhà trôi, người dân quê ngoại tôi hôm nay quá nhiều thống khổ, vừa qua chiến tranh bom đạn giờ thì lại vật vả, lo âu, hồi hộp theo từng trận mưa cơn gió và cứ thế hàng năm cái đói cái lạnh, thiếu ăn rách nát sao mãi đi cạnh cuộc đời ?

Tôi lại càng nhớ câu hát ngày xưa mà cậu tôi thường nghêu ngao:

“ …quê hương em nghèo lắm ai ơi

mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu ăn,”

(Phạm đình Chương)

Sông Hương hay Thạch Hãn cũng giống nhau, cũng nước trong leo lẻo, giòng chảy lững lờ và giống nhau hơn hết là cùng nghèo cùng khổ như nhau. Xa nhau chẳng mấy dặm đường, quê Nội tôi có giòng Hương giang thơ mộng và quê Ngoại tôi, nơi tôi sinh ra và lớn lên có giòng Thạch hãn hiền hòa theo năm tháng.

Tiên tri trong câu hát của cố nhạc sĩ Phạm đình Chương vần còn vận vào số mang người dân quê ngoại đến tận bây giờ không hề thay đổi. Quê ngoại vẫn còn, giòng Thạch Hãn vẫn còn , nhưng người dân quê ngoại càng khổ càng lo . Ốm o gầy mòn, thiếu ăn thiếu mặc sao mãi hoài đậm nét. Và càng đói càng thiếu, rừng Trường sơn càng bị đốt phá càng mang thương tật, sứt mẻ, tang hoang. Rồi hàng năm cơn giận dữ của thấn Thuỷ Tinh sẽ mãi gầm thét không thôi. Tháng mười “ông tha mà bà chẳng tha”, muôn triệu khối nước mà Ông Trời trừng phạt sẽ dằn lên những đôi vai còm cõi của dân nghèo, lên những tấm thân khẳng khiu, xác xơ của “mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu ăn” của người dân Quảng Trị .

Và nếu như thế, tôi biết rằng quê ngoại tôi vĩnh viễn không còn cái “thú vui thơ dại ” như xưa được nữa. Một thuở có những tháng mười “ông tha mà bà chẳng tha” bọn tôi tha hồ đi ‘chơi lụt’, đi lội lụt. Nhưng, những cơn lụt ‘dễ thương’ này chỉ có trong quá khứ, một quá khứ mà bọn tôi nhớ mãi suốt đời .

San Jose chớm thu 2008

Đinh Trọng Phúc

__________________

Người theo dõi